CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ I. Khái niệm và bản chất nguồn vốn đầu tư: 1. Khái niệm: Nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tích luỹ được thể hiện dưới dạng giá trị được chuyển hoá thành vốn đầu tư để đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội.Đây là thuật ngữ dùng để chỉ các nguồn tập trung và phân phối vốn cho đầu tư phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và của xã hội. Bản chất: Xét về bản chất thì các nguồn vốn đầu tư đều là phần tiết kiệm hay tích luỹ cảu toàn bộ nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội.Điều này được cả kinh tế học cổ điển,kinh tế chính trị học Mác-Lênin và kinh tế học hiện đại chứng minh.
Theo kinh tế học cổ điển thì tiết kiệm là nguồn gốc trực tiếp gia tăng quy mô vốn đầu tư.Theo quan điểm kinh tế chính trị Mác-Lênin thì nguồn lực cho đầu tư tái sản xuất mở rộng chỉ có thể được đáp ứng do sự gia tăng sản xuất và tích luỹ của nền kinh tế.Đối với kinh tế học hiện đại,phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng mà người ta gọi là tiết kiệm không thể khác với phần gia tăng năng lực sản xuất mà người ta gọi là đầu tư. Trên góc độ của nền kinh tế,tiết kiệm và đầu tư không nhất thiết được tiến hành bởi cung một chủ thể xác định.Có thể cá nhân,doanh nghiệp tại một thời điểm nào đó có tích luỹ nhưng không trực tiếp tham gia đầu tư.Trong khi đó ,có một số cá nhân,doanh nghiệp lại thực hiện đầu tư khi chưa hoặc tích luỹ đầu tư chưa đủ.Khi đó thị truờng vốn sẽ tham gia giải quyết vấn đề bằng việc điều tiết từ nơi thừa hoặc tạm thời dư thừa sang cho người có nhu cầu sử dụng. Trong nền kinh tế mở,nếu nhu cầu đầu tư lớn hơn tích luỹ của nội bộ nèn kinh tế và tài khoản vãng lai bị thâm hụt thì quốc gia đó có thể huy động vốn đầu tư từ nước ngoài. Ngược lại,nếu tích luỹ của nền kinh tế lớn hơn nhu cầu đầu tư trong nước trong điều kiện thặng dưtài khoản vãng lai thì quốc gia này có thể đầu tư vốn ra nước ngoài để tăng hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế.
Các nguồn huy động vốn đầu tư: 1. Trên góc độ của toàn bộ nền kinh tế: Trên góc độ toàn bộ nền kinh tế nền kinh tế,nguồn vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Nguồn vốn đầu tư trong nước: Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy của nội bộ nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh ngiệp và tiết kiệm của chính phủ được huy động vào quá trình tái sản xuất của xã hội.Biểu hiện cụ thể của nguồn vốn đầu tư trong nước bao gồm nguồn vốn đầu tư của nhà nước và nguồn vốn của dân cư và tư nhân. Nguồn vốn đầu tư trong nước bao gồm nguồn vốn nhà nước,nguồn vốn của dân cư và tư nhân.
Nguồn vốn nhà nước: Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước. * Nguồn vốn ngân sách nhà nước: Đây chính là nguồn chi của ngân sách nhà nước cho đầu tư. Đó chính là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia + Đặc điểm: Được dùng cho các dự án đòi hỏi vốn lớn, dùng để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, quốc phòng, an ninh. Tỷ lệ sinh lời thấp, không có khả năng hoàn vốn trực tiếp.
Các dự án khi đi vào giai đoạn vận hành có tác dụng hỗ trợ lớn cho các thành phần kinh tế khác. Nguồn vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần có sự tham gia của nhà nước, chi cho công tác lập và thực hiện 3 các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn, chi cho các khoản trợ cấp, chi trả lãi suất các khoản tiền vay của chính phủ. Thu của ngân sách nhà nước chủ yếu từ các khoản thu thuế, ngoài ra còn có các khoản thu phí và lệ phí có tính chất thuế. Hiện nay quy mô ngân sách không ngừng được gia tăng nhờ mở rộng các nguồn thu khác nhau như bán tài nguyên, bán hay cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước… * Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước: Tín dụng nhà nước là các quan hệ tín dụng giữa nhà nước với dân cư và các chủ thể kinh tế khác để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong quản lý kinh tế - xã hội.
Ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, các nguồn thu của ngân sách nhà nuớc nhiều khi không đảm bảo thoả mãn đầy đủ nhu cầu về vấn đề phát triển văn hoá, y tế, giáo dục, quản lý nhà nước, củng cố quốc phòng…Vì vậy nhà nước cần phải thực hiện việc vay vốn từ các tổ chức kinh tế và các tầng lớp dân cư để bù đắp những thiếu hụt đó. Đồng thời nhà nứơc có thể thực hiện cho vay đối với các chương trình, các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế. Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước ngày càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước có tác dụng tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể bao cấp vốn trực tiếp của nhà nước.Với cơ chế tín dụng, các đơn vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo tính kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn.
Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ phương thức cấp phát vốn ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp. Bên cạnh đó, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước còn phục vụ công tác quản lý và điều tiết kinh tế vĩ mô. Thông qua nguồn tín dụng đầu tư đầu tư nhà nước thực hiện việc khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội trên khía cạnh là công cụ điều tiết vĩ mô, nguồn vốn này không chỉ thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà còn thực 4 hiện cả mục tiêu phát triển xã hội. Việc phân bổ nguồn vốn tín dụng đầu tư còn khuyến khích phát triển những vùng kinh tế khó khăn, giải quyết các vấn đề xã hội như xóa đói, giảm nghèo.
Và trên hết, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển còn có tác dụng tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển được hình thành từ các nguồn như: - Vốn ngân sách nhà nước cấp trực tiếp hàng năm dành cho tín dụng đầu tư phát triển. - Vốn huy động trong nước và nước ngoài dành cho tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước. - Vốn thu hồi nợ( gốc và một phần lãi) cho chương trình tín dụng ưu đãi của nhà nước đầu tư đã đến hạn trả nợ.
- Các nguồn vốn hợp pháp khác. * Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước: Nguồn vốn này chủ yếu bao gồm từ khấu hao tài sản cố định và thu nhập giữ lại tại doanh nghiệp nhà nước. Các doanh nghiệp nhà nước ra đời chủ yếu bằng cách nhà nước đầu tư xây dựng các doanh nghiệp nhà nước trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, thương mại…Các doanh nghiệp nhà nước chỉ phát triển trong những ngành, những lĩnh vực trọng yếu như kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, những cơ sở sản xuất thương mại, dịch vụ quan trọng, một số doanh nghiệp thực hiện những nhiệm vụ liên quan đến quốc phòng an ninh. Doanh nghiệp nhà nước nói chung có quy mô vừa và lớn, công nghệ tiến bộ, kinh doanh có hiệu quả, tạo nguồn thu cho ngân sách.
Nguồn vốn của dân cư và tư nhân: Nguồn vốn của khu vực tư nhân bao gồm tiết kiệm của dân cư, phần tích lũy của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã. Nguồn vốn trong dân cư còn phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình. Thu nhập của hộ gia đình có thể từ nhiều nguồn như tiền lương, viện trợ, 5 thừa kế, bán tài sản và có thể là đi vay,…Chi tiêu của hộ gia đình bao gồm: các khoản chi mua hàng hóa và dịch vụ, chi trả lãi suất và các khoản tiền vay.Tiết kiệm của các doanh nghiệp dân doanh được xác định trên cơ sở doanh thu và các khoản chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Phần tích lũy của các doanh nghiệp này cũng đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn của toàn xã hội.
Quy mô của nguồn vốn này phụ thuộc vào: - Trình độ phát triển của đất nước (ở những nước có trình độ phát triển thấp thường có quy mô và tỷ lệ tích lũy thấp). - Tập quán tiêu dùng của dân cư. - Chính sách động viên của nhà nước thông qua chính sách thuế thu nhập và các khoản đóng góp của xã hội. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài: Nguồn vốn đầu tư nước ngoài chính là các khoản tiết kiệm ngoài nước, bao gồm cả vốn và tài sản của cá nhân, doanh nghiệp hay các tổ chức kinh tế và chính phủ nước ngoài được đầu tư vào một nước nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận hoặc vì những mục tiêu chính chị xã hội nhất định.
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài có thể được coi là các dòng lưu chuyển vốn quốc tế (international-capital flows). Thực chất các dòng lưu chuyển vốn quốc tế là biểu thị quá trình chuyển giao nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trên thế giới. Trong các dòng lưu chuyển vốn quốc tế, dòng từ các nước phát triển đổ vào các nước đang phát triển thường được các nước thuộc thế giới thứ ba đặc biệt quan tâm.Dòng vốn này diển ra dưới nhiều hình thức.Mỗi hình thức có đặc điểm,mục tiêu và điều kiện thực hiện riêng,không hoàn toàn giống nhau.