Chương 1: Tổng quan về quản trị nguồn nhân lực. Trong chương này, tác giả trình bày ba nhóm chức năng cơ bản của QTNNL đó là: Nhóm chức năng thu hút NNL, nhóm chức năng đào tạo và phát triển NNL, nhóm chức năng duy trì NNL; Ngoài ra trong chương này nêu lên một số mô hình 6 QTNNL ở Việt Nam; Kinh nghiệm trong công tác quản trị nguồn nhân lực của một số doanh nghiệp và bài học rút ra cho Công ty cổ phần dịch vụ kỹ thuật điện lực dầu khí Việt Nam. Chương 2: Thực trạng hoạt động quản trị nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần dịch vụ kỹ thuật điện lực dầu khí Việt Nam. Trong chương này tác giả trình bày tổng quan về Công ty cổ phần dịch vụ kỹ thuật điện lực dầu khí Việt Nam, đánh giá chung hoạt động quản trị nguồn nhân lực của Công ty cổ phần dịch vụ kỹ thuật điện lực dầu khí Việt Nam, những thành tựu đạt được và những tồn tại cần khắc phục.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần dịch vụ kỹ thuật điện lực dầu khí Việt Nam. Trong chương này, tác giả căn cứ trên những thành công và hạn chế trong công tác quản trị nguồn nhân lực đã trình bày ở chương 2 để đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần dịch vụ kỹ thuật điện lực dầu khí Việt Nam. TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Khái niệm, vai trò và ý nghĩa của quản trị nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Theo Stivastava M/P (1997), Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn bao gồm cả thể lực và trí lực, kỹ năng nghề nghiệp mà mọi cá nhân sở hữu. Vốn nhân lực được hiểu là con người dưới một dạng nguồn vốn, thậm chí là nguồn vốn quan trọng nhất đối với quá trình sản xuất, có khả năng sinh ra các nguồn thu nhập trong tương lai.
Nguồn vốn này là tập hợp những kỹ năng kiến thức kinh nghiệm được nhờ vào quá trình lao động sản xuất. Do vậy các chi phí về giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng,… để nâng cao khả năng sản xuất của nguồn nhân lực được xem như chi phí đầu vào của sản xuất, thông qua đầu tư vào con người. Theo Wright et al., 1994, Nguồn nhân lực là sự kết hợp giữa những kỹ năng, kiến thức, các khả năng được đặt dưới sự kiểm soát của một tổ chức dưới dạng mối quan hệ lao động trực tiếp và sự biểu hiện của những khả năng đó dưới hình thức các hành vi của nhân viên sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức. Nguồn nhân lực (NNL) là “nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh.
Trước hết với tư cách là nguồn lực cung cấp sức lao động cho xã hội. NNL với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội là khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Với cách hiểu này NNL tương với nguồn lao động”. Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định (Trần Kim Dung, 2016).
Tóm lại, NNL là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hòa các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức – tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động 8 sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.2 Khái niệm quản trị nguồn nhân lực Quản trị nguồn nhân lực (QTNNL) là quá trình liên quan đến việc tuyển dụng các cá nhân vào tổ chức được thực hiện một nhiệm vụ nhất định chẳng hạn như giám sát hiệu suất, và đem lại lợi ích tương xứng với năng suất cá nhân. QTNNL liên quan đến tất cả các quyết định và hành động quản lý có ảnh hưởng đến bản chất của mối quan hệ giữa các tổ chức và nhân viên của mình, Beer và cộng sự (1984). QTNNL là quá trình tuyển dụng, đào tào, đánh giá và bồi dưỡng cho nhân viên và tham gia vào các mối quan hệ lao động, sức khỏe và an toàn của họ, Dessler G. QTNNL là một phương pháp đặc biệt để quản lý công việc và tìm cách để đạt được lợi thế cạnh tranh thông qua các chiến lược phát triển lực lượng lao động có năng lực và sự cam kết cao, sử dụng một chiến lược tích hợp với văn hóa, cấu trúc và các kỹ thuật nhân sự, Storey (1995).
QTNNL là công tác quản lý con người trong phạm vi nội bộ một tổ chức, là sự đối xử của tổ chức đối với người lao động. Nói cách khác, QTNNL chịu trách nhiệm đưa con người vào tổ chức, giúp họ thực hiện công việc, thù lao cho sức lao động của họ và giải quyết các vấn đề phát sinh (Nguyễn Ngọc Quân và cộng sự (2007). QTNNL là một chiến lược hợp nhất và chặt chẽ đề cập đến công ăn việc làm, sự phát triển, và sự hài lòng của những người làm việc trong tổ chức Amstrong (2009). Theo Huỳnh Thị Thu Sương, (2017), QTNNL là quá trình khai thác, tổ chức, sử dụng khoa học kỹ thuật hiện đại và lý luận về quản trị nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược của tổ chức, bằng cách thường xuyên tìm kiếm, tạo nguồn nhân lực, điều phối, lãnh đạo, kiểm tra, đôn đốc thực hiện chế độ lương thưởng, phạt hợp lý nhằm khai thác và sử dụng NNL có hiệu quả.
Thực chất của QTNNL là công tác quản lý con người trong phạm vi nội bộ 9 của một tổ chức, là sự đối xử của tổ chức với người lao động. Nói cách khác QTNNL chịu trách nhiệm về việc đưa con người vào tổ chức giúp họ thực hiện công việc, thù lao cho sức lao động của họ và giải quyết các vấn đề phát sinh. Theo Nguyễn Thanh Hội và Phan Thăng (2007), QTNNL là một quá trình thực hiện mục tiêu của tổ chức thông qua các hoạt động hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra, kiểm soát các hoạt dộng có liên quan trực tiếp các vấn đề thu hút, tuyển mộ, xây dựng, giữ gìn, sử dụng, đãi ngộ và phát triển nguồn nhân lực. Tóm lại, QTNNL là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo - phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn (Trần Kim Dung, 2016).3 Vai trò của quản trị nguồn nhân lực QTNNL đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập tổ chức, là điều kiện cần để các tổ chức tồn tại và phát triển.
Tầm quan trọng của QTNNL xuất phát từ vai trò quan trọng của con người, nếu doanh nghiệp QTNNL không tốt sẽ dẫn đến quản trị các nguồn khác cũng không tốt. QTNNL đóng vai trò chiến lược trọng chiến lược phát triển chung của tổ chức, của doanh nghiệp. Nghiên cứu quản trị nguồn nhân lực giúp cho nhà quản trị đạt được mục đích, kết quả thông qua người khác. Nhà quản trị giỏi cần nhiều thời gian nghiên cứu giải quyết các vấn đề nhân sự hơn các vấn đề khác.
Để quản trị có hiệu quả, nhà quản trị cần biết cách làm việc hòa hợp với người khác, biết cách lôi kéo người khác làm việc theo ý của mình. Nghiên cứu quản trị nguồn nhân lực giúp cho nhà quản trị học được cách giao dịch với người khác, tìm ra được tiếng nói chung, hiểu được nhu cầu, nguyện vọng của nhân viên, biết cách đánh giá chính xác, biết lôi kéo say mê với công việc, tránh được các sai lầm trong tuyển chọn, sử dụng, biết cách phối hợp thực hiện mục tiêu của tổ chức và mục tiêu của cá nhân (Trần Kim Dung, 2016). Như vây, QTNNN đóng vai trò trung tâm trong các quá trình điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có thể tồn tại, phát 10 triển và đi lên trong cạnh tranh. Về mặt kinh tế: QTNNL giúp cho doanh nghiệp khai thác khả năng tiềm tàng nâng cao năng suất lao động và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp về nguồn lực.
Về mặt xã hội: QTNNL thể hiện sự quan tâm rất nhân bản về quyền lợi của người lao động, đề cao vị thế và giá trị của người lao động, chú trọng giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa tổ chức doanh nghiệp và người lao động (Trần Kim Dung, 2011).4 Mục tiêu của quản trị nguồn nhân lực Để có được NNL chất lượng, phục vụ cho sự phát triển của tổ chức thì QTNNL phải đạt được bốn mục tiêu cơ bản sau: - Mục tiêu xã hội: Tổ chức phải đá ứng nhu cầu và thách đố của xã hội, tổ chức hoạt động vì lợi ích của xã hội chứ không phải chỉ của riêng mình. - Mục tiêu thuộc về tổ chức: QTNNL là tìm cách thích hợp để các bộ phận cũng như toàn bộ tổ chức có được người làm việc có hiệu quả. QTNNL tự nó không phải là cứu cánh; nó chỉ là một phương tiện giúp tổ chức đạt được các mục tiêu. - Mục tiêu chức năng và nhiệm vụ: mỗi bộ phận phòng ban đều có chức năng nhiệm vụ riêng, vì thế mỗi bộ phận phòng ban phải đóng góp phục vụ cho mục tiêu chung của tổ chức.
- Mục tiêu cá nhân và mục tiêu tổ chức: nhà quản trị giúp nhân viên mình đạt được các mục tiêu cá nhân của họ. Nhà quản trị phải nhận thức rằng nếu lãng quên mục tiêu cá nhân của nhân viên, năng suất lao động sẽ giảm, và nhân viên có thể sẽ rời bỏ tổ chức.2 Các chức năng cơ bản của quản trị nguồn nhân lực Hoạt động quản trị NNL liên quan đến các vấn đề về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của nhân viên nhằm đạt được hiệu quả cao cho cả tổ chức lẫn nhân viên. Carrell et al (1998) đã đưa ra 6 chức năng của QTNNL đó là: Bồi thường và lợi ích (bao gồm quản lý tiền lương, các kế hoạch bồi thường, trợ cấp và các phúc lợi); Các dịch vụ cho nhân viên (các chương trình hỗ trợ nhân viên, chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ về tái định cư); Tạo sự công bằng trong công việc; Phân tích công việc; Đào tạo; Điều tra thái độ. Ngoài ra QTNNL còn thực hiện các chức năng 11 như: phỏng vấn, đào tạo và phát triển, lập kế hoạch nghề nghiệp, các thủ tục kỹ luật và đánh giá hiệu suất làm việc.