Chương 1: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu. Trong chương này tác giả trình bày khái niệm về nguồn nhân lực, quản trị nguồn nhân lực, nội dung của quản trị nguồn nhân lực, vai trò của quản trị nguồn nhân lực, các yếu tố Thực hiện: Phan Quốc Việt 6 ảnh hưởng đến hoạt động quản trị nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất để tiến hành nghiên cứu. Chương 2: Thực trạng công tác quản trị nguồn nhân lực tại Sở GTVT Bến Tre.
Trong chương này tác giả trình bày sơ lược về Sở GTVT Bến Tre, thực trạng công tác quản trị nguồn nhân lực tại Sở GTVT Bến Tre và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản trị nguồn nhân lực tại Sở GTVT Bến Tre. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại Sở GTVT Bến Tre. Trong chương này tác giả trình bày cơ sở đề xuất giải pháp, giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại Sở GTVT Bến Tre và đề xuất một số kiến nghị đối với các bên có liên quan. Thực hiện: Phan Quốc Việt 7 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm cơ bản a) Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người bao gồm cả phẩm chất, trình độ chuyên môn, kiến thức, óc sáng tạo, năng lượng, nhiệt huyết và kinh nghiệm sống của con người nhằm đáp ứng cơ cấu kinh tế xã hội đòi hỏi [5].
Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất. Nó cũng được xem là sức lao động của con người - một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố của sản xuất của các doanh nghiệp. Nhân lực của doanh nghiệp bao gồm tất cả những lao động làm việc trong doanh nghiệp [2]. Tóm lại, nguồn nhân lực là toàn bộ khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng vào trong quá trình lao động sản xuất.
b) Quản trị nguồn nhân lực Khái niệm quản trị NNL được trình bày theo nhiều gốc độ khác nhau như: Ở gốc độ tổ chức quá trình lao động: “Quản lý nhân lực là lĩnh vực theo dõi, hướng dẫn, điều chỉnh, kiểm tra sự trao đổi chất (năng lượng, thần kinh, bắp thịt) giữa con người với các yếu tố vật chất của tự nhiên (công cụ lao động, đối tượng lao động, năng lượng, .) trong quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần để thỏa mãn nhu cầu của con người và xã hội nhằm duy trì, bảo vệ và phát triển tiềm năng của con người”. Với tư cách là một trong các chức năng cơ bản của quá trình quản trị: Quản trị nguồn nhân lực bao gồm các việc hoạch định, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát các hoạt động liên quan đến việc thu hút, sử dụng và phát triển người lao động trong các tổ chức. Thực hiện: Phan Quốc Việt 8 Đi sâu vào chính nội dung hoạt động của quản trị nhân lực thì “Quản lý nhân lực là việc tuyển dụng, sử dụng, duy trì và phát triển cũng như cung cấp các tiện nghi cho người lao động trong các tổ chức”. Quản trị nhân lực là một bộ phận quan trọng của công tác quản trị doanh nghiệp, là quá trình tổ chức và sử dụng, xác định nhu cầu lao động một cách khoa học, có hiệu quả trên cơ sở phân tích công việc, xác định nhu cầu, tuyển dụng lao động, đào tạo bồi dưỡng lao động, đánh giá thực hiện công việc của lao động trong mỗi doanh nghiệp [4].
Tóm lại, quản trị nhân lực là những hoạt động nhằm tăng cường những đóng góp có hiệu quả của cá nhân vào mục tiêu của tổ chức trong khi đồng thời cố gắng đạt được các mục tiêu xã hội và mục tiêu cá nhân.2 Nội dung công tác quản trị nguồn nhân lực 1.1 Hoạch định và phân tích công việc a) Hoạch định công việc Hoạch định công việc là quá trình xem xét một cách có hệ thống các nhu cầu về nguồn nhân lực để vạch ra kế hoạch làm thế nào để đảm bảo mục tiêu đúng người, đúng việc, đúng lúc [5]. b) Phân tích công việc Phân tích công việc là một quá trình xác định các loại công việc phải thực hiện, tính chất của mỗi loại công việc, quyền hạn, trách nhiệm và kỹ năng thực hiện theo yêu cầu của công việc. Như vậy, thực chất của việc phân tích công việc là xác định nhu cầu về lao động ở doanh nghiệp trong mỗi thời kì nhất định cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu[5].2 Tuyển dụng và bố trí nhân sự a) Các nguồn tuyển dụng nhân sự - Nguồn nội bộ bao gồm: những người đang làm việc cho doanh nghiệp đó là cách đưa người lao động làm việc ở vị trí cao hơn vị trí làm việc cũ [5]. Thực hiện: Phan Quốc Việt 9 - Nguồn bên ngoài: là những người mới đến xin việc, được thực hiện khi nguồn nội bộ trong doanh nghiệp không đáp ứng được nhu cầu về số lượng và chất lượng nhân lực [5].
b) Các bƣớc tuyển dụng - Bước 1: Công bố số lượng nhân sự và vị trí, điều kiện, chế độ đãi ngộ đối với người cần tuyển lên các phương tiện thông tin đại chúng; - Bước 2: Nhận hồ sơ xin việc; - Bước 3: Sàn lọc các ứng viên thông qua hồ sơ xét tuyển; - Bước 4: Tổ chức thi tuyển và phỏng vấn; - Bước 5: Khám sức khỏe; - Bước 6: Quyết định tuyển dụng [5].3 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực a) Đào tạo nguồn nhân lực - Đào tạo tại nơi làm việc [5]. - Kèm cặp hướng dẫn tại chỗ [5]. - Luân phiên thay đổi công việc [5]. - Đào tạo theo chỉ dẫn [5].
- Phương pháp nghe nhìn [5]. - Tổ chức các lớp cạnh tranh doanh nghiệp [5]. b) Phát triển nguồn nhân lực - Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động để duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức, là điều kiện quyết định để các tổ chức đứng vững và thắng lợi trong môi trường cạnh tranh. Do đó, trong các tổ chức, công tác đào tạo và phát triển cần được thực hiện một cách có tổ chức và có kế hoạch [5].
- Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực nhằm sử dụng tối đa nguồn lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp cho người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp của mình và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn, thái độ tốt hơn cũng như khả năng thích ứng của họ với công việc trong tương lai [5]. Thực hiện: Phan Quốc Việt 10 1.4 Đãi ngộ nhân sự Đãi ngộ nhân sự trong doanh nghiệp được thực hiện thông qua hai hình thức cơ bản là đãi ngộ tài chính và đãi ngộ phi tài chính[5]. Đãi ngộ nhân sự là một quá trình liên quan đến suốt cả quá trình làm việc của người lao động, ngay cả khi thôi việc. Bởi vì nội hàm của đãi ngộ nhân sự rộng hơn nhiều sovới phạm trù trả công lao động.
Suy rộng ra, từ gốc độ quản trị nguồn nhân lực thì đãi ngộ nhân sự có thể được hiểu như sau: Đãi ngộ nhân sự là quá trình chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động để người lao động có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và qua đó góp phần hoàn thành những mục tiêu của doanh nghiệp[5].3 Vai trò của quản trị nguồn nhân lực Nguồn nhân lực đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.Nếu một doanh nghiệp có nguồn nhân lực mạnh về trình độ chuyên môn, năng lực làm việc thì sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển đúng hướng và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường. Do đó, vai trò của quản trị được thể hiện ở một số khía cạnh như sau: Một là, do sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường nên các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển buộc phải tiến hành cải tiến tổ chức của mình theo hướng tinh giảm gọn nhẹ, năng động, trong đó yếu tố con người mang tính quyết định; Hai là, do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật cùng với sự phát triển của nền kinh tế buộc các doanh nghiệp phải biết làm cho tổ chức của mình thích ứng. Do đó, việc thực hiện các nội dung hoạch định, tuyển dụng, duy trì, phát triển, đào tạo, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con người thông qua tổ chức, nhằm đạt được mục tiêu đã định trước là vấn đề quan tâm hàng đầu; Ba là, nghiên cứu quản trị nguồn nhân lực giúp cho nhà quản trị đạt được mục đích, kết quả thông qua người khác. Một quản trị gia có thể lập kế hoạch hoàn chỉnh, xây dựng sơ đồ tổ chức rõ ràng, có hệ thống kiểm tra hiện đại chính xác,.nhưng nhà quản trị đó vẫn có thể thất bại nếu không biết tuyển dụng đúng Thực hiện: Phan Quốc Việt 11 người cho đúng việc hoặc không biết cách khuyến khích nhân viên làm việc.
Để quản trị có hiệu quả, nhà quản trị cần biết cách làm việc và hòa hợp với người khác, biết cách lôi kéo người khác làm cho mình; Bốn là, nghiên cứu quản trị nguồn nhân lực giúp cho các nhà quản trị học được cách giao dịch với người khác, biết tìm ra ngôn ngữ chung và biết nhạy cảm với nhu cầu của nhân viên, biết cách đánh giá nhân viên chính xác, biết lôi kéo nhân viên say mê với công việc, tránh được các sai lầm trong tuyển chọn, sử dụng nhân viên, biết cách phối hợp thực hiện mục tiêu của tổ chức và mục tiêu của các cá nhân, nâng cao hiệu quả của tổ chức và dần dần có thể đưa ra chiến lược con người trở thành một bộ phận hữu cơ chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác của tổ chức; Tóm lại, quản trị nguồn nhân lực đóng vai trò trung tâm trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung của các doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp có thể tồn tại, phát triển và đi lên trong cạnh tranh. Vai trò trọng tâm này xuất phát từ vai trò của con người: con người là yếu tố cấu thành nên doanh nghiệp; bản thân con người vận hành doanh nghiệp và con người quyết định sự thành bại của doanh nghiệp.