PHẦN MỞ ĐẦU 1 .Tính cấp thiết của đề tài Trong nhiều năm gần đây hoạt động đầu tƣ xây dựng công trình giao thông của nƣớc ta đang đƣợc chú trọng rất nhiều. Nó là một hoạt động không thể thiếu trong công cuộc xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc. Bất kỳ một dự án nào đƣợc triển khai cũng cần phải đáp ứng các mục tiêu là hoàn thành đúng thời hạn đề ra, đảm bảo đƣợc chất lƣợng theo tiêu chuẩn yêu cầu và trong phạm vi vốn ngân sách đƣợc duyệt. Tuy nhiên, hoạt động đầu tƣ xây dựng công trình giao thông vẫn tồn tại một số yếu kém, làm hạn chế tốc độ tăng trƣởng kinh tế và phát triển các mặt xã hội.
Sự yếu kém trong công tác quản lý dự án mà mà cụ thể là công tác quản lý của Ban quản lý dự án đóng vai trò rất quan trọng. Để giải quyết những yêu cầu đó đòi hỏi ngƣời quản trị phải hoạch định những kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát xuyên suốt quá trình phát triển của dự án. Thời gian vừa qua trong địa bàn Tỉnh Kiên Giang đã có nhiều dự án đầu tƣ xây dựng công trình giao thông đã hoàn thành và từng bƣớc phát huy hiệu quả Kinh tế- Xã hội. Tuy nhiên, không phải dự án đầu tƣ nào cũng đạt đƣợc kết quả mong đợi, dự án đầu tƣ thành công hay thất bại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó phần lớn là phụ thuộc vào “Công tác quản lý dự án”, chính vì thế phải đƣợc chú trọng rất nhiều.
Hiện nay công tác quản lý dự án trên địa bàn Tỉnh Kiên Giang còn tồn tại nhiều hạn chế, chƣa hoàn thiện. Nắm bắt đƣợc thực trạng trên cùng với vốn kiến thức đã học tập, nghiên cứu tác giả xin chọn đề tài cho luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ của mình là: “Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tƣ xây dựng các công trình giao thông tại Ban quản lý dự án thuộc Sở GTVT Tỉnh Kiên Giang”. Để phân tích thực trạng, nâng cao kỹ năng quản lý dự án của nhà quản trị. Đảm bảo tiến độ, chất lƣợng của dự án, cũng nhƣ sự thành công của dự án và từng bƣớc hoàn thiện trong công tác quản lý dự án.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Một là cụ thể hóa dự án đầu tƣ, công tác quản lý dự án đầu tƣ. Hai là đƣa ra các tiêu chí để quản lý dự án đầu tƣ xây dựng công trình giao thông có hiệu quả. Mục tiêu cuối cùng là phân tích, đánh giá công tác quản lý dự án đầu tƣ xây dựng công trình GTVT trên địa bàn Tỉnh bằng những số liệu có thực hay nói cách khác là phân tích, đánh giá tồn tại và hạn chế trong công tác quản lý dự án. Trên cơ sở đó đề xuất, kiến nghị các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hơn trong công tác quản lý dự án.
Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu là Ban quản lý dự án đầu tƣ xây dựng các công trình giao thông thuộc Sở GTVT Tỉnh Kiên Giang. Tập trung nghiên cứu vào các công tác quản lý dự án xét theo nội dung quản lý của các dự án đã hoàn thành tại Ban. Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu thực trạng đầu tƣ xây dựng các công trình GTVT tại tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2005-2013. Nghiên cứu và cụ thể hóa các nội dung trong quản lý dự án đầu tƣ xây dựng trên địa bàn Tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2005 – 2013.
Định hƣớng phát triển GTVT trên địa bàn Tỉnh Kiên Giang đến năm 2020. Phƣơng pháp nghiên cứu Dùng các cơ sở lý luận để cụ thể hóa các định nghĩa, khái niệm về đầu tƣ, quản lý dự án đầu tƣ, các hình thức quản lý dự án đầu tƣ và các khái niệm liên quan đến hoạt động đầu tƣ. Sử dụng phƣơng pháp thống kê, phân tích và tổng hợp để làm rõ những mặt yếu kém trong công tác quản lý mà cụ thể là: thiếu vốn, chậm trễ trong công tác giải phóng mặt bằng dẫn đến tiến độ bị kéo dài gây lãng phí., đồng thời chỉ rõ vai trò và trách nhiệm trong công tác quản lý tại Ban. 4 Dùng các phƣơng pháp phân tích và so sánh giữa công tác quản lý dự án đầu tƣ của một số nƣớc trên thế giới để rút ra bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý ở địa bàn Tỉnh.
Dùng các phƣơng pháp lập luận, tƣ duy logic kết hợp với các tài liệu, các dự án đã và đang triển khai để từ đó đánh giá đƣợc thực trạng trong công tác quản lý trên địa bàn Tỉnh. Vận dụng và theo sát những chính sách, nghị định của Nhà nƣớc và thông tƣ của các Bộ về công tác quản lý đầu tƣ xây dựng công trình giao thông. Đƣa ra các luận cứ, đồng thời kết hợp tất cả các phƣơng pháp nêu trên để đúc kết tìm ra những mặt yếu kém trong công tác quản lý. Từ đó đề ra giải pháp nhằm hoàn thiện hơn trong công tác quản lý dự án và đây cũng chính là vấn đề cần giải quyết của đề tài.
CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƢ VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH. Các khái niệm về đầu tƣ và quản lý dự án đầu tƣ xây dựng. Các khái niệm liên quan đến đầu tư. Đầu tƣ là hoạt động bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tƣ theo quy định của pháp luật.
Khái niệm đầu tƣ trên đây chứa đựng 3 thuật ngữ pháp lý liên quan đến đầu tƣ cần phải đƣợc làm rõ, đó là: Nhà đầu tƣ, vốn đầu tƣ và hoạt động đầu tƣ. Nhà đầu tư: Là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tƣ theo quy định của pháp luật tại Việt Nam. Nhà đầu tƣ ở đây bao hàm các nhà đầu tƣ trong nƣớc và nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, trong đó nhà đầu tƣ nƣớc ngoài là tổ chức cá nhân nƣớc ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tƣ tại Việt Nam. Vốn đầu tư: Là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tƣ theo hình thức đầu tƣ trực tiếp hoặc đầu tƣ gián tiếp.
Đồng tiền ở đây đƣợc nói đến là đồng tiền Việt Nam và ngoại tệ do chuyển đổi. Các tài sản hợp pháp bao gồm: cổ phần, cổ phiếu; trái phiếu, khoản nợ; các quyền theo hợp đồng; quyền đòi nợ và quyền có giá trị kinh tế theo hợp đồng; công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ; quyền chuyển nhƣợng; bất động sản; các khoản lợi tức; các tài sản và quyền có giá trị kinh tế khác. Hoạt động đầu tư: Là hoạt động của nhà đầu tƣ trong quá trình đầu tƣ gồm các khâu chuẩn bị đầu tƣ, thực hiện và quản lý dự án đầu tƣ. Các đặc trưng cơ bản của đầu tư: Là hoạt động bỏ vốn: việc quyết định đầu tƣ trƣớc hết là quyết định sử dụng vốn, quyết định sử dụng tài sản (đặc biệt là về cơ cấu tài sản) để sinh lợi, đƣợc biểu hiện dƣới các dạng khác nhau nhƣ tiền, kim loại quý hiếm, bất động sản, giá trị trí tuệ.
Đó là một chuỗi các hành động chi của chủ đầu tƣ để thu nhận một chuỗi các khoản thu lớn hơn để bảo toàn vốn và có lãi. Vì vậy, các quyết định đầu tƣ chủ yếu đƣợc xem xét từ phƣơng diện tài chính. 6 Là hoạt động có tính lâu dài: đầu tƣ luôn là hoạt động có tính chất lâu dài, nhằm tạo nên các dự trữ và tiềm năng về tài sản để sinh lợi trong tƣơng lai, mọi tính toán đều là dự tính, phải chịu những tác động nhất định của nhiều nhân tố khác nhau. Đây là một vấn đề hết sức hệ trọng phải đƣợc xem xét, tính toán kỹ lƣỡng và đƣợc thực hiện thông qua quá trình phân tích, đánh giá khi lập dự án đầu tƣ cũng nhƣ trong quá trình thẩm định dự án đầu tƣ.
Là hoạt động đòi hỏi tính hiệu quả (hài hòa giữa lợi ích trƣớc mắt và lợi ích lâu dài): Đứng về một phƣơng diện nào đó, đầu tƣ là sự hy sinh lợi ích trƣớc mắt để đạt đƣợc lợi ích lâu dài trong tƣơng lai.Vì vậy, chỉ quyết định đầu tƣ khi mà lợi ích trong tƣơng lai phải lớn hơn lợi ích ở hiện tại hoặc tạm thời phải hy sinh lợi ích hiện tại và thông thƣờng phải đƣợc thực hiện thông qua các dự án đầu tƣ. Là hoạt động mang tính rủi ro: bản chất của đầu tƣ là làm cho lợi ích trong tƣơng lai lớn hơn lợi ích hiện tại, nhƣng phải thực hiện trong một thời gian dài và chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau, là sự hy sinh giá trị chắc chắn ở thời điểm hiện tại để đổi lấy (không chắc chắn) những giá trị ở tƣơng lai. Vì vậy nhà đầu tƣ không thể tính hết và chính xác những sự thay đổi có thể xảy ra trong quá trình thực hiện dự án đầu tƣ. Do đó việc chấp nhận rủi ro trong đầu tƣ là điều không thể tránh khỏi.
Theo cách thức tham gia của nhà đầu tƣ vào hoạt động đầu tƣ, đầu tƣ chia thành 2 hình thức: - Đầu tƣ trực tiếp. - Đầu tƣ gián tiếp. Theo luật đầu tƣ 59/2005/QH11 của quốc hội quy định về hoạt động đầu tƣ thì nội dung của hình thức đầu tƣ trực tiếp và đầu tƣ gián tiếp đƣợc mô tả nhƣ sau: 7 ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP Nhà đầu tƣ bỏ vốn của mình vào hoạt CÁC động đầu tƣ. Nhà đầu tƣ tham gia quản lý trực tiếp vào HÌNH hoạt động đầu tƣ THỨC ĐẦU TƢ GIÁN TIẾP ĐẦU Nhà đầu tƣ tham gia quản lý hoạt động đầu tƣ thông qua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, TƢ các giấy tờ có giá trị khác thông qua quỹ đầu tƣ chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác Hình 1.1: Các hình thức đầu tƣ Trong 2 hình thức này thì đầu tƣ xây dựng công trình chủ yếu là đầu tƣ trực tiếp bằng các bỏ vốn ra tiến hành các hoạt động xây dựng với kết quả là các tài sản cố định tạo ra dƣới dạng vật chất cụ thể là các công trình hoàn thành.
Hình thức đầu tƣ trực tiếp đƣợc quy lại thành 4 hình thức cụ thể là đầu tƣ thành lập tổ chức kinh tế, đầu tƣ theo hợp đồng, đầu tƣ phát triển kinh doanh và góp vốn mua cổ phần, sát nhập, mua lai doanh nghiệp.