CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 1. Công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng giai đoạn thực hiện đầu tư ở Việt Nam 1.1 Công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng giai đoạn thực hiện đầu tư tại Việt nam hiện nay Từ khi Đảng, Nhà nước ta thực hiện đường lối đổi mới, nghành xây dựng đã có nhiều cơ hội để phát triển, các lực lượng quản lý và các đơn vị trực tiếp tham gia vào hoạt động xây dựng đã không ngừng lớn mạnh về mọi mặt, làm chủ được công nghệ thiết kế, công nghệ thi công, xây dựng được những công trình quy mô lớn, phức tạp mà hầu hết trước đây chúng ta đều phải thuê các tổ chức chuyên gia nước ngoài. Trong những năm qua, vốn đầu tư của Nhà nước liên tục gia tăng và chiếm tỷ lệ khoảng 30% GDP, qua đó đã tạo nên sự chuyển biến quan trọng về cơ sở vật chất kỹ thuật, thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng lực sản xuất, cải thiện văn minh đô thị, đóng góp quyết định vào phát triển kinh tế xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chất lượng công trình xây dựng là một vấn đề sống còn được Nhà nước và cộng đồng hết sức quan tâm.
Nâng cao công tác QLCL CTXD là góp phần nâng cao chất lượng sống cho con người, vì một khi chất lượng CTXD được đảm bảo, không xảy ra sự cố đáng tiếc thì sẽ tiết kiệm được rất nhiều cho ngân sách quốc gia. Số tiền đó sẽ được dùng vào công tác đầu tư phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống cho nhân dân, hoặc dùng hỗ trợ công tác xóa đói giảm nghèo. Công tác quản lý và triển khai thực hiện các dự án ĐTXD trong những năm qua vẫn còn một số hạn chế, dẫn đến thất thoát, lãng phí vốn đầu tư, hiệu quả đầu tư kém. Tuy nhiên, dưới sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, trong đó kiểm toán Nhà nước là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước đã thực hiện nhiệm vụ kiểm soát và đảm bảo chất lượng công trình xây dựng tại nước ta hiện nay.2 Công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam Trong những năm qua, công tác đầu tư xây dựng của Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã đạt được những kết quả to lớn, với giá trị đầu tư giai đoạn 2010-2016 trung bình năm trên 100.000 tỷ, trong đó đầu tư thuần xấp xỉ 100.000 tỷ đồng (năm 2016 đầu tư thuần là 96.
Với khối lượng đầu tư lớn như trên trong khi các thủ tục về ĐTXD luôn thay đổi, các luật lệ qui định về thủ tục trình duyệt ngày càng chặt chẽ và phức tạp, song với sự chỉ đạo kiên quyết, sáng tạo của Hội đồng thành viên, Ban tổng giám đốc công tác ĐTXD luôn hoàn thành tốt kế hoạch đề ra. EVN đã thực hiện đầu tư nhiều công trình nguồn điện, đã cơ bản đáp ứng yêu cầu cung cấp đủ điện cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Để xây dựng dự án đạt được Chất lượng và hiệu quả đầu tư, phải quan tâm đến tất cả các giai đoạn Chuẩn bị dự án; thực hiện dự án và đưa dự án vào vận hành khai thác sử dụng. Trong ba giai đoạn thì chuẩn bị dự án là một giai đoạn rất quan trọng, nó xác định sự cần thiết đầu tư hay không, dự án có khả thi về kỹ thuật và kinh tế hay không và nó là nền móng cho bước thực hiện đầu tư dự án tiếp theo.1: Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 4 giai đoạn thực hiện DAĐT XDCT 4 1.1 Kết quả thực hiện các dự án của EVN 1.1 Về công tác thực hiện Qui hoạch Hầu hết các dự án nguồn điện do EVN làm chủ đầu tư đều thực hiện đáp ứng tiến độ Qui hoạch được duyệt, nhưng các dự án nguồn điện do bên ngoài làm chủ đầu tư đều bị chậm tiến độ hoặc chưa triển khai thực hiện đầu tư theo tiến độ đã được xác định trong TSĐ do vậy đã dẫn đến tình trạng thiếu điện, đặc biệt khu vực miền Nam ở giai đoạn 2017 - 2020 và 2020 - 2025.
Để giải quyết tình trạng thiếu điệu nêu trên, chúng ta đã chủ động nghiên cứu kiến nghị với Bộ Công Thương, Chỉnh phủ cho phép bổ sung vào Quy hoạch và thực hiện đầu tư một số nhà máy nhiệt điện như Vĩnh Tân 4, Vĩnh Tân 4 MR, Duyên Hải 3 MR, mở rộng một số nhà máy thủy điện Thác Mơ, Đa Nhim, Hòa Bình, Ialy, Trị An, bổ sung một số dự án điện mặt trời và kiến nghị giao cho EVN thực hiện đầu tư một số nhà máy nhiệt điện trong Tổng sơ đồ điện VII mà Chính phủ chưa giao cho đơn vị làm chủ đầu tư và dự án Chủ đầu tư khác thực hiện chậm như Nhiệt điện Tân Phước 1, 2, Nhiệt điện Quảng Trạch 1, 2,. để bù đắp cho sự thiếu hụt trên.2 Về công tác khảo sát, lập dự án đầu tư và thiết kế. Công tác khảo sát, lập dự án đầu tư, lập thiết kế công trình nguồn điện của EVN chủ yếu do các Công ty cổ phần tư vấn Xây dựng điện 1, 2, 3, 4 thực hiện. Một số công việc đặc biệt cho phép thuê Tư vấn nước ngoài hỗ trợ hoặc lĩnh vực nghiên cứu chuyên ngành có thuê các đơn vị bên ngoài EVN thực hiện (nghiên cứu về động đất, thí nghiệm mô hình thủy lực, cảng biển, .) tuy nhiên khối lượng và giá trị thuê ngoài rất thấp.
Trong những năm qua, công tác khảo sát, lập dự án đầu tư, thiết kế công trình do các đơn vị tư vấn thực hiện đã có bước phát triển vững mạnh. Lực lượng Tư vấn xây dựng điện 2 đã đảm nhận được vai trò là Tư vấn chính ở tất cả các lĩnh vực, các giai đoạn của dự án nguồn điện do EVN quyết định đầu tư, làm chủ đầu tư, có đơn vị Tư vấn (PECC2) đã tham gia trong tổ hợp nhà thầu để thực hiện gói thầu EPC xây dựng nhà máy nhiệt điện .3 Công tác thẩm tra/thẩm định, trình duyệt dự án đầu tư, thiết kế Công tác thẩm tra/ thẩm định, trình duyệt các dự án ĐTXD đã có chuyển biến tốt. Sự phối hợp giữa Ban QLDA, đơn vị tư vấn lập dự án, bộ phận thẩm định, trình, phê duyệt 5 đã đảm bảo chặt chẽ về thủ tục đầu tư và chất lượng hồ sơ tài liệu dự án được quan tâm, chú trọng hơn.4 Công tác lập và quản lý chi phí Trong thời gian qua, công tác lập và quản lý chi phí trong ĐTXD bị chi phối bởi nhiều quy định của Nhà nước (đặc biệt là các dự án nguồn điện có thời gian thực hiện đầu tư dài). Chính sách của Nhà nước có nhiều thay đổi (nội dung, phương pháp xác định, định mức, đơn giá, chính sách tiền lương,.
Việc thay đổi các quy định về quản lý chi phí cũng là nguyên nhân hạn chế đối với công tác quản lý chi phí của Chủ đầu tư và thường dẫn đến các vướng mắc, ảnh hưởng đến tiến độ thi công công trình. Ngoài ra quy định về chính sách bồi thường - hỗ trợ - tái định cư của Chính phủ, địa phương với các dự án nguồn điện có thời gian thi công dài là rất phức tạp và khó khăn, hầu hết các dự án phải bổ sung, điều chỉnh TMĐT dẫn đến tăng chi phí, giảm hiệu quả đầu tư xây dựng công trình. Tuy có những khó khăn khách quan nêu trên nhưng công tác quản lý chi phí đầu tư trong Tập đoàn rất được chú trọng, đã tổ chức xây dựng được nhiều bộ định mức cho công tác mới, rà soát điều chỉnh định mức không phù hợp và kiến nghị với cơ quan quản lý Nhà nước các bất hợp lý về chế độ chính sách trong ĐTXD, đã nghiên cứu hướng dẫn kịp thời các qui định mới của Nhà nước cho các đơn vị áp dụng thực hiện, các vướng mắc về kinh tế liên quan đến quản lý chi phí đầu tư trên công trường cũng đã được tháo gỡ, giải quyết kịp thời để đáp ứng ứng tiến độ thi công các dự án, qua đó công tác lập và quản lý chi phí đã thực hiện khá tốt, góp phần cho các dự án đầu tư có hiệu quả hơn.5 Công tác QLDA ĐTXD các công trình thủy điện/nhiệt điện của Tập đoàn Nhìn chung, chất lượng công trình tại các dự án thủy điện/nhiệt điện khi đưa vào khai thác sử dụng đã đáp ứng được yêu cầu. Tuy nhiên, cũng có những dự án còn một số hạng mục khi vừa mới đưa vào sử dụng cũng đã xuất hiện những khiếm khuyết tại một số hạng mục hoặc bộ phận công trình, kể cả trong quá trình xây dựng.
Chẳng hạn như trong quá trình thực hiện quản lý đầu tư xây dựng 3 dự án thủy điện là Tuyên Quang, Bản Chát và Huội Quảng đã xảy ra một số khiếm khuyết như sau: 6 Thủy điện Tuyên Quang: Xói lở hạ lưu phải gia cố bổ sung; Thủy điện Bản Chát: Xử lý cửa van vận hành cửa nhận nước, thu hẹp mũi phun đập tràn và gia cố bổ sung hố xói; Thủy điện Huội Quảng: Sạt sụt vòm giếng điều áp thượng lưu số 2, sạt mái đào vai trái do địa chất thực tế có sự sai khác nhiều so với hồ sơ thiết kế.2 Thực trạng một số hạn chế, tồn tại trong QLDA của Tập đoàn 1.1 Công tác khảo sát, lập, thẩm tra trình duyệt dự án đầu tư và thiết kế Sự gắn kết giữa công tác khảo sát với công tác thiết kế đối với một số dự án còn thiếu chặt chẽ, một số dự án phải khảo sát bổ sung để xử lý trong quá trình thi công gây ảnh hưởng đến tiến độ thi công. Công tác khảo sát, đặc biệt là khảo sát địa hình, địa chất và công tác điều tra bồi thường, di dân, tái định cư còn có những bất cập gây nên những phát sinh về khối lượng và chi phí của dự án, gây ảnh hưởng đến tiến độ thi công như: Vai trái thủy điện Lai Châu, vai trái thủy điện Huội Quảng, Sông Bung 2; Vai phải và vai trái thủy điện Sông Bung 4, Mỏ đá thủy điện Bản Chát. Những sai sót, bất cập trong công tác khảo sát đã dẫn đến các sai sót trong thiết kế, làm phát sinh các xử lý kỹ thuật trong quá trình thi công xây dựng công trình, tăng chi phí đầu tư. Chất lượng hồ sơ thiết kế của một số dự án chưa đảm bảo, phải hiệu chỉnh bổ sung và trình duyệt nhiều lần.