CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG TẠI DOANH NGHIỆP 1. Những vấn đề chung trong trích lập dự phòng 1. Khái niệm về dự phòng và ảnh hưởng của nó tới kết quả kinh doanh trong kỳ 1. Khái niệm về dự phòng Theo Ủy ban thuật ngữ của Hội đồng quốc gia về kế toán của Pháp, dự phòng được định nghĩa như sau: “Dự phòng là việc xác nhận về phương diện kế toán, sự giảm giá trị của một tài sản hay sự gia tăng công nợ, xác thực về bản chất nhưng mang tính ước tính về mặt giá trị.
Việc xác lập dự phòng dựa trên bằng chứng xác thực xảy ra xung quanh thời điểm khóa sổ kế toán”. Như vậy có thể nói, đặc điểm chủ yếu của dự phòng là một ước tính của kế toán, nó vừa mang tính chất dự đoán, vừa mang tính chất tạm thời. Việc lập dự phòng là do nguyên tắc thận trọng trong kế toán, khi có những vấn đề chưa rõ ràng, cần phải xem xét thận trọng để không làm cho tài sản và thu nhập bị thổi phòng, cũng như nợ phải trả và chi phí bị giấu bớt. Trước khi đi sâu vào phân tích các khoản trích lập dự phòng, chúng ta cần tìm hiểu thế nào là dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính, dự phòng nợ phải thu khó đòi để có một cái nhìn khái quát và nắm bắt rõ ràng các quy định về kế toán trích lập các khoản dự phòng đó.
Dự phòng giảm giá hàng tồn kho: Là khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho khi có sự suy giảm của giá trị thuần có thể thực hiện được so với giá gốc của hàng tồn kho Dự phòng nợ phải thu khó đòi: Làkhoản dự phòng phần giá trị các khoản nợ phải thu và các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn khác có bản chất tương tự các khoản phải thu khó có khả năng thu hồi. Dự phòng tổn thất đầu tư vào đơn vị khác: Là khoản dự phòng tổn thất do doanh nghiệp nhận vốn góp đầu tư (công ty con, liên doanh, liên kết) bị lỗ dẫn đến nhà đầu tư có khả năng mất vốn hoặc khoản dự phòng do suy giảm giá trị các khoản đầu tư vào công ty con, công ty liên doanh, liên kết. 2 Dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh: Là dự phòng phần giá trị bị tổn thất có thể xảy ra do giảm giá các loại chứng khoán doanh nghiệp đang nắm giữ vì mục đích kinh doanh Dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp: là dự phòng chi phí cho những sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp đã bán, đã bàn giao cho người mua nhưng DN vẫn có nghĩa vụ phải tiếp tục sửa chữa, hoàn thiện theo hợp đồng hoặc cam kết với khách hàng (Thông tư 13/2006/TT-BTC).Ảnh hưởng của việc trích lập dự phòng tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp: Nhờ dự phòng giảm giá tài sản mà bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp phản ánh chính xác hơn giá trị thực tế của tài sản không quá cao. Do dự phòng làm giảm lãi của doanh nghiệp, doanh nghiệp tiết kiệm được một số vốn đáng lẽ phải được phân chia để bù đắp các khoản giảm giá tài sản có thể phát sinh ở niên độ sau.
Khoản dự phòng thực chất là một nguồn tài chính giúp doanh nghiệp tránh được các rủi ro có thể gặp sau này. Dự phòng giảm giá được ghi nhận như một khoản chi phí và sẽ được khấu trừ vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp nên thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp sẽ giảm đi.Nguyên tắc chung trong trích lập các khoản dự phòng: Một doanh nghiệp muốn hoạt động kinh doanh tốt cần phải bảo đảm được ổn định về nhiều mặt như tài sản cố định, công cụ dụng cụ, hàng hóa, nguyên vật liệu, hàng tồn kho, khả năng thanh toán… Nhưng làm thế nào để doanh nghiệp đảm bảo được cho mình những tiềm lực kinh tế trên? Trích lập dự phòng là một trong những công cụ tài chính an toàn có thể giúp cho doanh nghiệp đối phó với những rủi ro, tổn thất có thể xảy ra, phản ánh các giá trị của tài sản trên các bản báo cáo một cách đáng tin cậy, đồng thời giúp doanh nghiệp vận hành, hoạt động một cách ổn định và có hiệu quả trong một môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay. Trích lập dự phòng được thực hiện dựa trên nguyên tắc thận trọng của kế toán. Điều đó đã được Bộ Tài chính quy định thực hiện trong chế độ kế 3 toán của Việt Nam.
Có nhiều loại trích lập dự phòng nhưng trong phạm vi của bài nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu xin tập trung vào 3 loại dự phòng là: dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng giảm giá đầu tư tài chính, dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp. Tuy vậy, dù là loại trích lập dự phòng nào thì cũng phải tuân theo chuẩn mực cụ thể và nguyên tắc chung của trích lập dự phòng mà Bộ Tài hính đã ban hành theo Thông tư 200/2014/TT-BTC. Thông tư 200 của Bộ Tài chính quy định: Các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật Việt Nam (gọi là doanh nghiệp) phải thực hiện trích lập dự phòng. Riêng một số trường hợp đặc biệt sau: + Đối với các doanh nghiệp được thành lập trên cơ sở các Hiệp định ký giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài, nếu Hiệp định có các quy định về trích lập và sử dụng các khoản dự phòng khác với hướng dẫn tại Thông tư này, thì thực hiện theo quy định của Hiệp định đó.
+ Việc trích lập dự phòng của các Tổ chức tín dụng thực hiện theo quy định tại văn bản hướng dẫn chế độ tài chính đối với các Tổ chức tín dụng. Các khoản dự phòng (dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính, dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp) được trích trước vào chi phí hoạt động kinh doanh năm báo cáo của doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp có nguồn tài chính để bù đắp tổn thất có thể xảy ra trong năm kế hoạch, nhằm bảo toàn vốn kinh doanh; đảm bảo cho doanh nghiệp phản ánh giá trị vật tư hàng hóa tồn kho, các khoản đầu tư tài chính không cao hơn giá cả trên thị trường và giá trị của các khoản nợ phải thu không cao hơn giá trị có thể thu hồi được tại thời điểm lập báo cáo tài chính. Thời điểm lập và hoàn nhập các khoản dự phòng (dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính, dự phòng nợ 4 phải thu khó đòi, dự phòng bảo hành hàng hóa, sản phẩm, công trình xây lắp) là thời điểm cuối kỳ kế toán năm. Trường hợp doanh nghiệp được Bộ Tài chính chấp thuận áp dụng năm tài chính khác với năm dương lịch (bắt đầu từ ngày 1/1 và kết thúc 31/12 hàng năm) thì thời điểm lập và hoàn nhập các khoản dự phòng là ngày cuối cùng của năm tài chính.
Đối với các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán phải lập báo cáo tài chính giữa niên độ thì được trích lập và hoàn nhập dự phòng ở cả thời điểm lập báo cáo tài chính giữa niên độ. Doanh nghiệp phải xây dựng cơ chế về quản lý vật tư, hàng hóa, quản lý công nợ để hạn chế các rủi ro trong kinh doanh. Đối với công nợ, hàng hóa, quy chế phải xác định rõ trách nhiệm của từng bộ phận, từng người trong việc theo dõi, quản lý hàng hóa, thu hồi công nợ. Bộ Tài chính nghiêm cấm doanh nghiệp lợi dụng việc trích lập dự phòng để tính thêm vào chi phí các khoản dự phòng không có đủ căn cứ nhằm làm giảm nghĩa vụ nộp ngân sách.
Những doanh nghiệp cố tình vi phạm sẽ bị xử phạt như hành vi trốn thuế theo quy định của pháp luật hiện hành. Doanh nghiệp phải lập Hội đồng để thẩm định mức trích lập các khoản dự phòng và xử lý tổn thất thực tế của vật tư hàng hóa tồn kho, các khoản đầu tư tài chính, các khoản nợ không có khả năng thu hồi theo quy định tại Thông tư này và văn bản pháp luật khác có liên quan. Riêng việc trích lập dự phòng chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp thì thực hiện theo hợp đồng hoặc cam kết với khách hàng. Thành phần Hội đồng gồm: Tổng giám đốc (hoặc Giám đốc), Kế toán trưởng, các trưởng phòng, ban có liên quan và một số chuyên gia (nếu cần).
Tổng giám đốc (hoặc Giám đốc) doanh nghiệp quyết định thành lập Hội đồng.Nguyên tắc và phương pháp trích lập dự phòng 1.Dự phòng giảm giá hàng tồn kho 1.Nguyên tắc kế toán dự phòng giảm giá hàng tồn kho Doanh nghiệp trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập khi có những bằng chứng tin cậy về sự suy giảm của giá trị thuần có thể thực hiện được 5 so với giá gốc của hàng tồn kho. Dự phòng là khoản dự tính trước để đưa vào chi phí sản xuất, kinh doanh phần giá trị bị giảm xuống thấp hơn giá trị đã ghi sổ kế toán của hàng tồn kho và nhằm bù đắp các khoản thiệt hại thực tế xảy ra do vật tư, sản phẩm, hàng hóa tồn kho bị giảm giá. Dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập vào thời điểm lập Báo cáo tài chính. Việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải được thực hiện theo đúng các quy định của Chuẩn mực kế toán “Hàng tồn kho” và quy định của chế độ tài chính hiện hành.
Việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải tính theo từng loại vật tư, hàng hóa, sản phẩm tồn kho. Đối với dịch vụ cung cấp dở dang, việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải được tính theo từng loại dịch vụ có mức giá riêng biệt. Giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho là giá bán ước tính của hàng tồn kho trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường trừ (-) chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc bán chúng.