CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG ĐANG HƯỞNG TRỢ CẤP THẤT NGHIỆP 1. Khái niệm cơ bản 1. Khái niệm việc làm Trong mỗi một nền kinh tế, việc làm luôn là vấn đề được các quốc gia quan tâm, việc làm nó có tác động tích cực cũng như tiêu cực tới đời sống của mỗi người dân lao động, việc làm tạo ra thu nhập cho người lao động nhưng thiếu việc làm lại cắt giảm thu nhập của người lao động, chính vì thế việc làm luôn là vấn đề được tất cả các quốc gia trên thế giới phải quan tâm và chú trọng tới. Giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, là một trong những biện pháp quan trọng để từng bước ổn định nâng cao đời sống của con người, đảm bảo phát triển bền vững đặc biệt đối với Việt Nam tốc độ tăng dân số, lực lượng lao động tăng nhanh, trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm bị hạn chế do khẳ năng cung về vốn, tư liệu sản xuất còn thấp.
Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra rất nhiều định nghĩa nhằm sáng tỏ khái niệm việc làm. Và ở các quốc gia khác nhau, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp… người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau. Chính vì thế, không có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm. Các nhà kinh tế học Anh cho rằng: “Việc làm, theo nghĩa rộng, là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩa là tất cả những gì quan hệ đến cách kiếm sống của một con người, kể cả các quan hệ xã hội và các tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ, của quá trình kinh tế.Theo quan điểm này thì tất cả những hoạt động tạo ra thu nhập mà không cần phân biệt có được pháp luật cho phép hay ngăn cấm, đều được gọi là việc làm.
Quan điểm 8 này chỉ đặt nặng vấn đề kinh tế của việc làm, trong khi đó, tính pháp lý là một trong những nguyên tắc cơ bản để xác định việc làm thì chưa đề cập đến. Các nhà kinh tế học của Liên Xô lại cho rằng “ Việc làm là sự tham gia của người có khả năng lao động vào một hoạt động xã hội có ích trong khu vực xã hội hóa sản xuất, trong học tập, trong công việc nội trợ, trong kinh tế phụ của các nông trang viên”. Quan điểm này đã coi cả công việc như đang đi học, đang tham gia các lực lượng vũ trang, làm các công việc nội trợ đều được coi là việc làm. Cũng như quan điểm của các nhà kinh tế học Anh, quan điểm này chủ yếu tập trung tính hữu ích của việc làm nói chung, coi các hoạt động hữu ích của con người là việc làm, song tính pháp lý của việc làm lại không đề cập đến.
Theo tổ chức Lao động quốc tế ( ILO), khái niệm việc làm chỉ đề cập đến trong mối quan hệ với lực lượng lao động, khi đó việc làm được phân thành hai loại: Có trả công ( những người làm thuê, học việc ) và không được trả công ( những người như giới chủ làm kinh tế gia đình). Do đó việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do có sự tham gia tích cực có tính chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất. Khái niệm này đã được chính thức thông qua tại Hội nghị quốc tế của ILO lần thứ 13 (1993) và đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Tuy nhiên khái niệm này mang nghĩa rất rộng bao trùm mọi hoạt động lao động của con người.
Nếu xem tất cả các công việc được trả công (được nhận thù lao) là việc làm thì sẽ dẫn đến sự thừa nhận các hoạt động bất hợp pháp như (các hoạt động tội phạm buôn bán ma túy, khủng bố.) các hoạt động vi phạm đạo đức xã hội (mại dâm), truyền thống các dân tộc. cũng xem là việc làm. Mặt khác, mỗi một quốc gia có một quan niệm khác nhau về việc làm để phù hợp với phong tục tập quán, quan điểm, điều kiện lịch sử của quốc gia mình, có những hoạt động được quốc gia này xem là việc làm nhưng nếu đặt 9 ở quốc gia khác thì bị cho là vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng đến trật tự xã hội và an ninh quốc gia đó thì sẽ bị xem là phạm pháp, và không chỉ coi đó là việc làm. Do đó khái niệm trên chỉ mang tính khái quát là cơ sở nghiên cứu vấn đề chung, cho các nước trên thế giới.
Ở Việt Nam, theo quan niệm trong Đại từ điển kinh tế thị trường “ việc làm là hành vi của nhân viên, có năng lực lao động, thông qua hình thức nhất định kết hợp với tư liệu sản xuất, để được thù lao hoặc thu nhập kinh doanh“ {10,tr.Với quan niệm này, việc làm được coi là quá trình hoạt động sản xuất của cải vật chất, tinh thần cho xã hội. Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta hiện nay, để phát huy tốt các nguồn lực xã hội, nhất là nguồn lực phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Với quan niệm trên có rất nhiều hoạt động lao động của con người không được xem là việc làm: ví dụ những hoạt động bảo đảm sự ổn định phát triển của xã hội, hỗ trợ cho những người thân tham gia trực tiếp sản xuất, kinh doanh. để có thu nhập ổn định không được tính đến Theo tác giả Bùi Anh Tuấn cho rằng “Việc làm có thể được hiểu là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất hoặc những phương tiện để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội“{11,tr8} cũng như các quan điểm vừa nêu, quan niệm này xem việc làm là một chỗ làm việc cụ thể nào đó của quá trình lao động được diễn ra, nhằm phân biệt với tình trạng thất nghiệp hoặc không làm việc.
Quan niệm này đã nêu lên các đặc trưng về việc làm như: + Là sự biểu hiện quan hệ của hai yếu tố là sức lao động kết hợp với tư liệu sản xuất, là trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất hoặc những phương tiện mà họ sử dụng để làm việc. + Lấy các lợi ích (vật chất và tinh thần) mà các hoạt động đem lại để 10 xem xét hoạt động đó có được coi là việc làm hay không. Quan điểm của Nhà nước ta về việc làm được quy định trong Điều 9, chương II (Việc làm) của Bộ Luật lao động nước CHXHCNVN quy định: ". Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm".
Theo khái niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn 2 điều kiện: Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và cho các thành viên trong gia đình. Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm. Thứ hai, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm. Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm.
Hai tiêu thức đó có quan hệ chặt chẽ với nhau và là điều kiện cần và đủ để một hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm. Nếu một hoạt động tạo ra thu nhập nhưng vi phạm pháp luật như trộm cắp, buôn bán ma tuý… thì không được thừa nhận là việc làm. Mặt khác một hoạt động dù là hợp pháp và có ích nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận là việc làm. Hạn chế của khái niệm trên: Thứ nhất: Tính hợp pháp của một hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm tuỳ thuộc vào luật pháp của mỗi quốc gia và mỗi thời kỳ.
Thứ hai: Hoạt động nội trợ không được coi là việc làm, trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ. * Theo giáo trình kinh tế lao động của khoa kinh tế lao động và dân số trường đại học Kinh Tế quốc dân Hà Nội, khái niệm việc làm được hiểu“ là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vấn, tư liệu sản xuất, công nghệ.) để sử dụng sức lao động đó{trang 48} 11 Trạng thái phù hợp được thể hiện thông qua quan hệ tỉ lệ giữa chi phí ban đầu (C) như nhà xưởng, máy móc thiết bị nguyên vật liệu và chi phí về sức lao động (V). Quan hệ tỉ lệ biểu diễn sự kết hợp giữa sức lao động với trình độ công nghệ sản xuất. Khi công nghệ thay đổi thì sự kết hợp đó cũng thay đổi theo có thể công nghệ sử dụng nhiều vốn hoặc công nghệ sử dụng nhiều sức lao động, chẳng hạn trong điều kiện kỹ thuật thủ công một đơn vị chi phí ban đầu về tư liệu sản xuất , vốn có thể kết hợp với nhiều đơn vị sức lao động còn trong điều kiện tự động hóa sản xuất theo dây chuyền hiện đại thì chi phí về vốn công nghệ, thiết bị rất cao, nhưng chỉ đòi hỏi sức lao động với tỉ lệ thấp.
Do đó tùy từng điều kiện cụ thể mà lựa chọn phương án phù hợp để có thể tạo việc làm cho người lao động Trong điều kiện của tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự áp dụng các thành tựu của khoa học công nghệ vào sản xuất mạnh mẽ như hiện nay, quan hệ tỉ lệ giữa C và V thường xuyên biến đổi theo các dạng khác nhau. Sự phù hợp giữa chi phí ban đầu và sức lao động có nghĩa là mọi người có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc để có việc làm, nếu chỉ xem xét trên phương diện sử dụng hết thời gian lao động có nghĩa là việc làm đầy đủ. Trong trường hợp sự phù hợp của mối quan hệ này cho phép sử dụng triệt để tiềm năng về vốn tư liệu sản xuất và sức lao động ta có khái niệm việc làm hợp lý. Sự không phù hợp giữa chi chí ban đầu và sức lao động sẽ dẫn đến thiếu nguồn nhân lực tức thiếu việc làm và thất nghiệp.
Từ những phân tích ở trên, trong luận văn này tác giả đồng tình với khái niệm việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp với sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ.) để sử dụng sức lao động đó.