Chương 1 giúp tiếp cận và tìm hiểu vấn đề một cách khoa học, có trình tự,. để từ đó có thể tiên đoán những hệ quả xuất phát từ hiện tượng bất cân xứng thông tin và đưa ra biện pháp khắc phục. Bên cạnh đó, việc đào sâu nền tảng lý thuyết còn giúp phân tích và tổng hợp bài học thực tiễn thành những kinh nghiệm điều hành, đóng góp vào công tác tổ chức thị trường ngày càng hiệu quả. Ngoài phần trình bày lý thuyết kinh điển, Tác giả cũng đã vận dụng lý thuyết vào thực tiễn để rút ra bài học kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua cho Việt Nam.
Tác giả cũng đề xuất một vài kiến nghị chính sách đối với việc quản lý và giám sát TTCK Việt Nam. Mối quan hệ biện chứng giữa lý thuyết và thực tế luôn sinh động, lý thuyết là phương tiện nhận diện thực tế năng động, bằng chứng thực tiễn củng cố lý luận và làm tăng thêm giá trị cho những lập luận khoa học. Tạm dừng trình bày lý thuyết, Tác giả sẽ chứng minh hiện tượng bất cân xứng thông tin trên TTCK và lý giải hiện tượng này thông qua lăng kính của một người nghiên cứu tài chính. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 CHƯƠNG 2 BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THẾ GIỚI 2.1 Mối quan hệ giữa sự bất cân xứng thông tin và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu: TTCK một số nước trên thế giới có lịch sử hoạt động lâu đời, với phương pháp tổ chức rất chặt chẽ, khoa học và hiệu quả.
Nhưng đâu đó tình trạng không công bằng về thông tin giữa những người tham gia thị trường vẫn diễn ra. Trong mỗi thời kỳ phát triển của phương pháp tổ chức thị trường thì luôn kèm theo đó những hành vi tinh xảo khác nhau tận dụng những kẽ hở của thị trường để trục lợi bất hợp pháp. TTCK thế giới thời gian vừa qua nổi lên nhiều vấn đề đáng được quan tâm và phân tích nhìn từ góc độ của kinh tế học thông tin, biến cố gây chú ý nhất là sự sụp đổ của các ngân hàng đầu tư Bear Stearns và Lehman Brother, báo hiệu một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu nổ ra.1 Biến động chỉ số Dow Jones trong vòng một năm qua Nguồn Bloomberg.com TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 Có rất nhiều nguyên làm cho những tổ chức tài chính trên đổ vỡ, nhưng một trong những nguyên nhân chính là từ phản ứng thái quá của thị trường trước thông tin xấu về những chứng khoán có nguồn gốc bất động sản bị phát hiện, sau đó những loại chứng khoán này rớt giá và những tổ chức sở hữu loại chứng khoán này phá sản. Báo chí phương tây cho rằng, những ngân hàng đầu tư Mỹ chia nhỏ MBS thành các CDO với giá cả và độ rủi ro khác nhau và đem bán chúng trên toàn thế giới, việc làm này vô hình chung phát tán rủi ro và làm quy mô khủng hoảng lan rộng.
Các ngân hàng đầu tư chứng khoán hóa những khoản vay tín dụng bất động sản một cách hết sức tinh vi và phức tạp đến mức những thông tin về rủi ro và chất lượng tài sản khó có thể nhận ra, sau đó những chứng khoán này được những nhà môi giới và tiếp thị “phân loại” và đem bán trên toàn thế giới thông qua những trung tâm tài chính. Mọi hoạt động diễn ra bình thường cho đến khi thị trường nhận ra những bất ổn, lúc này mọi hành động đều trở nên thái quá, những loại chứng khoán không rõ nguồn gốc trở thành “rác độc hại” và vô giá trị, người ta bắt đầu bán tháo chúng và rút lui khỏi thị trường, những tổ chức có khẩu vị rủi ro cao là những nạn nhân đầu tiên của cuộc khủng hoảng. Ngoài bản chất bất ổn của thị trường, hành động của những tổ chức môi giới và tư vấn vô trách nhiệm đã đổ thêm dầu vào lửa và làm cho cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tồi tệ hơn. Thị trường chứng khoán Mỹ giữ một vai trò quan trọng trong thị trường chứng khoán thế giới.
Tình hình bất cân xứng thông tin trên thị trường này cũng rất nghiêm trọng, đó là hành động che dấu hoặc thổi phồng thông tin tài chính của những công ty niêm yết bằng cách bắt tay với các công ty kiểm toán để phát ra những “tín hiệu ảo”, nhằm nâng cao giá trị cổ phiếu của công ty để thu lợi cho cá nhân, tổ chức. Có thể kể ra những bê bối như trong vụ làm giả sổ sách kế toán của tập đoàn năng lượng Enron; hay khai khống lợi nhuận, đầu tư tràn lan, qua mặt các cổ đông trong các thương vụ của tập đoàn Royal Ahold Hà Lan. Những vụ việc trên là bằng chứng điển hình về tình trạng bất cân xứng thông tin gây nên hậu quả nghiêm trọng. Gần đây báo chí Mỹ cũng đưa tin vụ hai nhân viên công ty chứng khoán ngân hàng UBS Thụy Sĩ tại Mỹ bị bắt vì tội che đậy và gian dối thông tin để lừa những khách hàng mà họ tư vấn.
Nổi bật hơn tất cả có lẽ là cú siêu lừa của cựu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 chủ tịch sàn giao dịch chứng khoán NASDAQ, Benard Madoff, ông này đã lợi dụng lòng tin của khách hàng và kinh nghiệm lão luyện trên TTCK cũng như uy tín cá nhân để lừa đảo những nhà đầu tư “chuyên nghiệp” khác, thiệt hại có thể tính toán được từ vụ Madoff lên đến trên 65 tỷ USD,. Có thể liệt kê rất nhiều trường hợp gian lận, giao dịch nội bộ, che dấu thông tin trên TTCK thế giới để chứng minh cho sự thiệt hại từ tình trạng bất cân xứng thông tin. Sau đây, Tác giả xin trình bày chi tiết một số trường điển hình: 2.2 Dấu ấn sự bất cân xứng thông tin trong vụ sụp đổ của Ngân hàng đầu tư Lehman Brothers: Ngày 15/09/2008 Ngân hàng đầu tư lớn thứ tư nước Mỹ - Lehman Brothers nộp đơn xin bảo hộ phá sản, để lại khoản nợ khổng lồ lên đến 613 tỷ USD (Nguồn: Vneconomy số ngày 16/09/2008), vụ phá sản của Lehman Brothers được đánh giá là lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ. Lý do Lehman Brothers bị cơn bão khủng hoảng tài chính “quật ngã” là vì ngân hàng này đã tham gia một chuỗi trò chơi đầy mạo hiểm, với những khoản đầu tư có khả năng đem lại lợi nhuận cao nhưng cũng vì thế mà có độ rủi ro lớn.
Dick Fuld, CEO của Lehman Brothers, một người trước đây nổi tiếng thận trọng nay đã thay đổi quan điểm và mạnh tay đầu tư vào chứng khoán phát hành dựa vào nợ dưới chuẩn nhiều rủi ro. Mùa hè năm 2007, khi khủng hoảng bắt đầu tấn công vào Phố Wall, Fuld khẳng định, đó chỉ là những rắc rối ngắn hạn và những công ty dám chấp nhận rủi ro lớn sẽ là những người thu lợi lớn một khi khủng hoảng chấm dứt. Do đó, Lehman Brothers đã tăng gấp đôi số tiền đầu tư vào các loại chứng khoán phái sinh phát hành dựa trên nợ cầm cố. Khủng hoảng xảy ra, các loại chứng khoán này liên tục sụt giá và trở thành liều thuốc độc đối với khả năng thanh khoản của Lehman Brothers.
Riêng trong quý 3 năm 2008, Lehman Brothers đã chịu khoản thua lỗ khoảng 3,93 tỷ USD, nặng nhất trong lịch sử của tập đoàn. Không chỉ kinh doanh đầy mạo hiểm, Lehman Brothers còn sai phạm trong những vụ mua bán cụ thể, tháng 10/2007 giữa lúc giá nhà đang lao dốc thì Lehman Brothers lại chi tới 22,2 tỷ USD để mua lại công ty đầu tư phát triển nhà chung cư Archstone, vụ làm ăn này ngay lập tức đem lại thua lỗ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 Để có tiền thực hiện “những trò chơi mạo hiểm”, Lehman Brothers chủ yếu vay nợ. Lý thuyết tài chính về thị trường hiệu quả khẳng định rằng những người vay tiền có động cơ thực hiện trò chơi “chuyển dịch rủi ro” khi công ty lâm vào tình trạng phá sản.
Tương tự như vậy, Lehman Brothers đã thực hiện một chiến lược “chuyển dịch rủi ro” cho các chủ nợ, nhưng các chủ nợ hoàn toàn không biết. Bằng chứng là các đợt phát hành chứng khoán huy động vốn của Lehman Brothers vẫn thành công, thậm chí trong những lần huy động vốn Dick Fuld chỉ phát hành một lượng tiền vừa đủ. Sự “ngây ngô” của những nhà đầu tư khi tin vào Lehman Brothers đã phải trả giá đắt, họ dường như trắng tay khi Lehman Brothers sụp đổ. Câu chuyện của Lehman Brothers không chỉ dừng lại sau khi Lehman Brothers phá sản mà nó còn liên quan đến hàng triệu nhà đầu tư nắm giữ những tài sản có liên quan, từ đó tạo ra một đợt bán tháo cổ phiếu trên toàn thị trường.
Mặt khác, khi thời hạn thanh toán những hợp đồng bảo hiểm (tạm gọi là CDS) đến hạn, những tổ chức đặt cược vào sự vững chãi của Lehman Brothers thua lỗ và điều đó tạo nên dư chấn. Sau khi Lehman Brothers phá sản, tổng cộng các hợp đồng hoán đổi tín dụng phá sản liên quan tới Lehman Brothers có giá trị khoảng 400 tỉ đô la Mỹ, (Nguồn: Reuters.com) theo tính toán của các chuyên gia thì các chủ nợ không được đảm bảo của ngân hàng này sẽ được trả lại 10 cent cho mỗi đô la tiền cho vay. Như vậy, có thể các tổ chức tài chính nào bán các hợp đồng hoán đổi tín dụng đối với Lehman Brothers phải trả số tiền tương đương 360 tỷ USD cho các khách hàng của mình. Số tiền 360 tỷ USD là một khoản chi quá lớn, và để có tiền mặt chi trả, các tổ chức tài chính của Mỹ đã bán tất cả những gì họ có thể bán, từ vàng đến chứng khoán.
Tiền mặt trở nên khan hiếm, thanh khoản nhiều tổ chức tài chính gặp khó khăn, nên lãi suất cho vay liên ngân hàng vọt lên bất chấp các ngân hàng trung ương giảm lãi suất. Tình hình bỗng trở nên vô cùng khó khăn cho giới tài chính, hậu quả nhãn tiền là sự giảm giá cố phiếu hoặc sự phá sản dây chuyền của những tổ chức tài chính có liên quan đến Lehman Brothers. Trong vụ phá sản của Lehman Brothers có nguyên nhân từ những thiếu sót từ cơ quan kiểm soát thị trường. Nếu tất cả những hoạt động của Lehman Brothers TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 đều được cơ quan theo dõi và giám sát chặt chẽ thì chắc chắn Lehman Brothers không thể thực hiện những hoạt động kinh doanh quá mạo hiểm dẫn đến một hậu quả nặng nề.