CHƯƠNG I.1 Tổng quan và ngành sản xuất tái chế nhựa Ngành tái chế nhựa được coi là một trong những ngành năng động và tăng trưởng cao nhất ở nước ta. Trong 10 năm qua, mức tăng trưởng của ngành này luôn đạt khoảng 15 đến 20%, nhưng phải NK (nhập khẩu) tới 80% nguyên liệu. Hiện nay, các nhà máy trong nước sản xuất mỗi năm 780.000 tấn nguyên liệu nhựa; trong đó, Lọc hóa dầu Bình Sơn (150.000 tấn PP), Hóa chất AGC (200.000 tấn PVC), Nhựa và hóa chất TPC Vina (190.000 tấn) … 5 năm trở lại đây, nhu cầu nguyên liệu nhựa nhập khẩu của ngành tăng trưởng trung bình 13,5% về lượng và 16% về giá trị. Năm 2017, Việt Nam đã nhập khẩu 4,9 triệu tấn hạt nhựa, tổng kim ngạch nhập khẩu hạt nhựa và sản phẩm nhựa lên tới gần 12,7 tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu 2,5 tỷ USD, doanh thu gần 15 tỷ USD.
Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA) để phân tích, căn cứ nhu cầu về nguyên liệu của toàn ngành nhiều năm qua, đặc biệt trong 5 năm trở lại đây, với tốc độ tăng trưởng lũy kế hàng năm đạt 10%, đến năm 2023, ngành nhựa cần khoảng 10 triệu tấn nhựa phục vụ sản xuất và xuất khẩu. Theo Quy hoạch tổng thể ngành hóa dầu và các dự án, sản lượng sản xuất hạt nhựa nguyên sinh trong nước dự kiến đạt 2,6 triệu tấn, đáp ứng 26%, số còn lại 7,4 triệu tấn cần phải nhập khẩu từ nước ngoài. Mặc dù nỗ lực kêu gọi các dự án đầu tư nhà máy sản xuất nguyên liệu, nhưng năng lực hiện tại chưa thể đáp ứng nhu cầu. Vì thế, giải pháp hiệu quả và phù hợp xu thế tiêu dùng sản phẩm hiện nay là bù đắp một phần bằng các loại nguyên liệu nhựa tái sinh (NLNTS).
Tận dụng nhựa phế liệu từ nhập khẩu để tái sinh, đưa vào sản xuất sản phẩm, kéo dài vòng đời của nguyên liệu nhựa để đem lại hiệu quả về mặt kinh tế luôn là mục tiêu hướng đến ở các quốc gia, ngay cả ở các khu vực kinh tế hàng đầu như Mỹ và EU. Cơ quan quản lý cần phối hợp Hiệp hội nhựa Việt Nam nhanh chóng xây dựng bộ tiêu chuẩn về chất xả thải sau cuối của quá trình tái chế nhựa phế liệu ở hai tiêu chuẩn chính gồm nước và khí. Thông qua phương án khống chế giá điện Sinh viên: Vũ Dương Khang – MT1801Q 2 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÒNG - mức điện sản xuất được Nhà nước ưu tiên giá, không cho phát sinh hay mở rộng quy mô tái chế tại làng nghề để hạn chế nguy cơ ô nhiễm môi trường. Có chính sách khuyến khích và ưu tiên cấp phép cho những đơn vị, dự án khống chế giá điện - mức điện sản xuất được Nhà nước ưu tiên giá, không cho phát sinh hay mở rộng quy mô tái chế tại làng nghề để hạn chế nguy cơ ô nhiễm môi trường.
Có chính sách khuyến khích và ưu tiên cấp phép cho những đơn vị, dự án sử dụng công nghệ hiện đại, tiên tiến, để việc chuyển giao công nghệ và bí quyết công nghệ thật sự được chia sẻ và phát triển trong ngành nhựa. Đồng thời, thành lập Quỹ Tái sinh môi trường do chính các doanh nghiệp hoạt động tái chế phế liệu tham gia, dự kiến sẽ thu được khoảng 500 - 1.000 tỷ đồng/năm, theo cách tính phí 50.000 đồng/tấn theo mức công suất thiết kế nhà máy của doanh nghiệp. Quỹ này sẽ được sử dụng để xử lý nước thải cho làng nghề, tiêu hủy lô hàng phế liệu NK không đạt tiêu chuẩn… 1.2 Tổng quan về chất dẻo 1. Khái niệm [1] Nhựa (Chất dẻo): Nhựa (hay còn gọi là chất dẻo hoặc polymer) là các hợp chất cao phân tử và chứa các đơn vị tái lặp trong suốt chiều dài mạch, được dùng làm vật liệu để sản xuất nhiều loại vật dụng trong đời sống hằng ngày cho đến những sản phẩm công nghiệp.
Chúng là những vật liệu có khả năng bị biến dạng khi chịu tác dụng của nhiệt, áp suất và vẫn giữ được sự biến dạng đó khi thôi tác dụng. Chất dẻo còn được sử dụng rộng rãi để thay thế cho các sản phẩm làm bằng: vải, gỗ, da, kim loại, thủy tinh. Vì chúng bền, nhẹ, khó vỡ, nhiều màu sắc đẹp. Nhựa phế thải là sản phẩm, vật liệu nhựa bị loại ra trong sản xuất hoặc tiêu dùng.
Một số loại nhựa phế thải có thể làm nguyên liệu ngành tái chế đó là nhựa nhiệt dẻo như PET, PE, PP, PS. Nhựa nhiệt dẻo là nhóm vật liệu Polymer có khả năng lặp lại nhiều lần quá trình chảy mềm dưới tác dụng nhiệt và trở nên đóng rắn (định hình) khi được làm nguội. Trong quá trình tác động nhiệt của nó Sinh viên: Vũ Dương Khang – MT1801Q 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÒNG chỉ thay đổi tính chất vật lý không có phản ứng hóa học xảy ra. Với đặc tính đó mà nhựa nhiệt dẻo có khả năng tái sinh nhiều lần, chính vì vậy mà những phế phẩm phát sinh trong quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng đều có khả năng tái chế được.
Tái chế nhựa: Tái chế nhựa là quá trình thu hồi phế liệu hoặc chất thải chất dẻo và tái chế vật liệu thành các sản phẩm hữu ích. Do phần lớn nhựa không phân huỷ sinh học, tái chế là một phần của nỗ lực toàn cầu nhằm giảm lượng nhựa trong dòng thải, đặc biệt là khoảng 8 triệu tấn chất thải nhựa nhập vào đại dương của Trái đất mỗi năm. Điều này giúp giảm tỷ lệ cao ô nhiễm chất dẻo. Phân loại nhựa Nhựa Nguyên sinh Tái sinh 1.
Nhựa nguyên sinh Nhựa nguyên sinh là sản phẩm nhựa được sinh ra từ quá trình chưng cất phân đoạn dầu mỏ. Hạt nhựa nguyên sinh chưa qua sử dụng thường có màu trắng tự nhiên, đây đều là những loại nhựa nguyên chất, không pha tạp, không thêm phụ gia. Đặc tính của nhựa nguyên sinh mềm, dẻo, có độ đàn hồi lớn, chịu được cong vênh và áp lực. Thành phẩm của nhựa nguyên sinh có thẩm mỹ khá cao do bề mặt bóng, mịn và màu sắc tươi sáng, thường được dùng để sản xuất các mặt hàng có giá trị cao hoặc các sản phẩm có đòi hỏi an toàn và có kỹ thuật cao như: thiết bị y tế, linh kiện máy bay, ô tô… Sinh viên: Vũ Dương Khang – MT1801Q 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÒNG Hạt nhựa nguyên sinh chưa qua sử dụng thường có màu trắng tự nhiên, khi đưa vào ứng dụng người ta thường pha thêm hạt tạo màu để được các màu sắc khác nhau như: xanh, đỏ, tím, vàng… Nhựa nguyên sinh bao gồm một số loại nhựa như PP, PC, ABS, PS-GPPS, HIPS, POM, PA, PMMA… 1.
Nhựa tái sinh Hạt nhựa tái sinh là một thật ngữ chung dùng cho nguyên liệu hữu cơ tổng hợp chất rắn vô định hình được tái chế từ các sản phẩm nhựa đã qua sử dụng thành hạt. Điển hình là các polime khối lượng phân tử cao, có thể được phá vỡ một số phần tử khác để tăng khối lượng, trọng lượng, đặc tính sử dụng hoặc giảm chi phí Để phân biệt được các loại hạt nhựa tái sinh khác nhau, người ta phải phân chia thành nhiều loại dựa trên cấu trúc hóa học, tính chất vật lý và tính năng sử dụng. Có thể phân loại dựa vào phương thức hóa học tổng hợp nên hợp chất ban đầu. Hiện nay trên thị trường đang sử dụng phổ biến các loại hạt như: HDPE, PP, PE, PET, PC, PVC ….
hoặc là nhựa ABS 1. Giới thiệu một số loại hạt nhựa a) Nhựa PP (Poly propylene) [ 2] Tên hóa học: (C3H6)x. Tính chất vật lý + Khối lượng riêng hạt nhựa PP vô định hình: 0,85 g/cm3, + Khối lượng riêng hạt nhựa PP tinh thể: 0,95 g/cm3 + Độ giãn dài hạt nhựa PP nguyên sinh 250 - 700% + Độ bền kéo hạt nhựa PP nguyên sinh: 30- 40 N/mm2 + Điểm nóng chảy hạt nhựa PP nguyên sinh: 165oC + Hạt nhựa PP nguyên sinh trong suốt, có độ bóng bề mặt cao cho khả năng in rõ nét. Sinh viên: Vũ Dương Khang – MT1801Q 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÒNG + Hạt nhựa PP không màu không mùi, không vị, không độc, sản phẩm từ nhựa PP cháy sáng với ngọn lửa xanh Tính chất hóa học + Với nhiệt độ bình thường PP không tan trong các dung môi, nó chỉ trương nở trong cacbua thơm hoặc cacbua được clorua hóa.
+ Nhưng ở nhiệt độ trên 80oC thì PP bắt đầu tan trong hai loại dung môi trên. PP hầu như không tan trong dầu thực vật. + Độ bền hoá chất: Polymer có kết tinh lớn > polymer có độ kết tinh bé. PP thực tế xem như không hút nước, mức hút ẩm < 0,01% Ứng dụng hạt nhựa trong đời sống + Hạt nhựa nguyên sinh nhờ đặc tính bóng, trong suốt, không màu, không mùi, không vị và đặc biệt không độc hại, dễ in ấn nên hạt nhựa PP nguyên sinh được dùng nhiều trong vỏ bao bì thực phẩm sinh hoạt: như túi nilon đựng thức ăn, vỏ bánh kẹo, vỏ bim bim + Nhờ tính dẻo dai, bền trong nước.
Hạt nhựa PP còn được dùng nhiều trong chăn nuôi như: tấm nhựa lót sàn chăn nuôi Hình 1. Hạt nhựa Polypropylen b) Nhựa Acrylonitrin butadien styren (ABS) Tên hóa học: Sinh viên: Vũ Dương Khang – MT1801Q 6 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÒNG Nhựa ABS có tên hóa học là Acrylonitrile Butadiene Styrene (ABS), công thức hóa học là (C8H8. Nhựa ABS được tạo ra từ quá trình trùng hợp 3 monomer là Acrylonitrile, Butadiene và Styrene. Đặc tính vật lý: + Độ cứng cao nên khó bị xước nếu xảy ra va chạm nhẹ.
+ Cơ độ khi tiếp xúc với nhiệt trong thời gian dài + Dễ tạo màu sáng hoặc phát quang + Cách điện tốt + Khối lượng riêng hạt nhựa nguyên sinh ABS: 1,05g/cm3 + Nhiệt độ nóng chảy hạt nhựa nguyên sinh ABS: 190-220°C + Nhiệt độ khuôn thích hợp khi ép nhựa ABS: 50-60°C + Nhiệt độ phá hủy nhựa ABS: 310°C + Độ co rút hạt nhựa nguyên sinh ABS: 0,4〜0,9% Tính chất hóa học: + Có khả năng kháng dung dịch axit hydrochloric kiềm và axit phosphoric, rượu, dầu thực vật, động vật. + Khi tiếp xúc với hydrocarbon thơm thì nhựa ABS sẽ bị trương lên và khi trong môi trường axit sunfuric, nitoric thì bị phá hủy tính chất vật lý. + Nhựa ABS bị hòa tan trong axeton, este, ethtylence dichloride. Ứng dụng: Nhựa ABS được sử dụng nhiều trong các sản phẩm điện tử, vỏ hộp bảo vệ máy móc, đồ chơi trẻ em, phụ kiện ô tô… Các sản phẩm thường được làm từ nhựa ABS dễ nhận thấy thường ngày như là phíc cắm điện, ổ cắm điện.