Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Theo số liệu từ Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), đến năm 2023, nhu cầu nguyên liệu nhựa chính phẩm phục vụ sản xuất và xuất khẩu tại Việt Nam ước tính đạt khoảng 10 triệu tấn/năm. Trong khi đó, quy hoạch ngành hóa dầu nội địa dự kiến chỉ đáp ứng khoảng 2,6 triệu tấn (chiếm 26%), buộc toàn ngành phải nhập khẩu 7,4 triệu tấn từ nước ngoài. Lượng hạt nhựa tái sinh được xác định là giải pháp bù đắp quan trọng, với nhu cầu nhập khẩu nhựa phế liệu phục vụ pha trộn lên tới 3 triệu tấn/năm. Việc sử dụng nhựa tái sinh đem lại lợi ích kinh tế đáng kể khi giá thành thấp hơn hạt nhựa nguyên sinh từ 30% đến 40%, trực tiếp hạ giá thành sản phẩm trong bối cảnh chi phí nguyên liệu chiếm tỷ trọng 60% đến 70% cơ cấu sản xuất. Dù vậy, hoạt động tái chế phế liệu nhựa tiềm ẩn nguy cơ phát sinh ô nhiễm môi trường nghiêm trọng về nước thải, khí thải, chất thải nguy hại và tiếng ồn.

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Vũ Dương Khang xác lập 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tìm hiểu về công nghệ tái chế nhựa.
  2. Tìm hiểu về hiện trạng môi trường của loại hình sản xuất tái chế nhựa.
  3. Đánh giá tác động tới môi trường của loại hình sản xuất tái chế nhựa.
  4. Đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công nghệ tái chế chất dẻo, các dòng chất thải phát sinh và các tác động môi trường liên quan. Phạm vi không gian của nghiên cứu tập trung vào các nhà máy, hợp tác xã và cơ sở sản xuất, gia công nhựa tại thành phố Hải Phòng (Hợp tác xã Bao bì Hoàng Minh tại quận Dương Kinh, Nhà máy sản xuất hạt nhựa tổng hợp tại xã Lê Thiện thuộc huyện An Dương, Công ty TNHH Công nghiệp chính xác Eva Hải Phòng, Công ty TNHH điện tử Dong Yang tại Khu công nghiệp Tràng Duệ và Công ty Caisvina tại Khu công nghiệp Nam Cầu Kiền). Phạm vi thời gian và số liệu quan trắc, khảo sát thực tế được thu thập và tổng hợp trong giai đoạn 2017 - 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về cơ sở lý thuyết, đề tài hệ thống hóa khái niệm về chất dẻo (polymer), nhựa nhiệt dẻo và nhựa phế thải. Nghiên cứu phân tích chuyên sâu cấu trúc hóa học, tính chất vật lý, cơ lý và ứng dụng của 7 nhóm polymer nhiệt dẻo phổ biến: Polypropylene (PP), Acrylonitrile Butadiene Styrene (ABS), High-Density Polyethylene (HDPE), Polyethylene (PE), Polyvinyl Chloride (PVC), Polycarbonate (PC) và Polyethylene Terephthalate (PET).

Về cơ sở pháp lý và tiêu chuẩn kỹ thuật, nghiên cứu vận dụng các văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn của Việt Nam gồm:

  • Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT của Bộ Y tế về 21 tiêu chuẩn vệ sinh lao động, 05 nguyên tắc và 07 thông số vệ sinh lao động;
  • QCVN 26:2016/BYT về vi khí hậu tại nơi làm việc;
  • QCVN 24:2016/BYT về mức tiếp xúc cho phép tiếng ồn tại nơi làm việc;
  • QCVN 32:2010/BTNMT về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với phế liệu nhựa nhập khẩu.

Bên cạnh đó, tác giả tham khảo kinh nghiệm lập pháp quốc tế từ Nhật Bản (Luật xúc tiến sử dụng những nguồn tài nguyên có thể tái chế năm 1991, Luật cơ bản về môi sinh năm 1993, Luật xúc tiến việc thu gom, phân loại và tái chế bao bì năm 1995, Luật sửa đổi về thải rác và vệ sinh công cộng các năm 1991 và 1997).

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm hai phương pháp chính:

  • Phương pháp khảo sát thực tế: Khảo sát quy trình công nghệ vận hành dây chuyền tái chế, máy móc thiết bị, công đoạn phát sinh dòng thải và điều kiện làm việc của người lao động.
  • Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu: Tổng hợp số liệu thứ cấp từ các báo cáo quan trắc môi trường định kỳ tại các doanh nghiệp trên địa bàn Hải Phòng; dữ liệu thống kê của Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA); hệ số phát thải khí ô nhiễm của Cục Chất lượng Môi trường Bang Michigan, Hoa Kỳ (MDEQ).

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan và ngành sản xuất tái chế nhựa

Chương I phân tích bức tranh kinh tế - kỹ thuật của ngành nhựa và tái chế nhựa. Trong 10 năm, ngành nhựa Việt Nam tăng trưởng từ 15% đến 20%/năm nhưng phụ thuộc tới 80% nguyên liệu nhập khẩu. Năm 2017, lượng hạt nhựa nhập khẩu đạt 4,9 triệu tấn với tổng kim ngạch gần 12,7 tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu đạt 2,5 tỷ USD và tổng doanh thu đạt gần 15 tỷ USD. Năng lực sản xuất nội địa đạt 780.000 tấn nguyên liệu/năm, phân bổ tại Lọc hóa dầu Bình Sơn (150.000 tấn PP), Hóa chất AGC (200.000 tấn PVC) và Công ty Nhựa và Hóa chất TPC Vina (190.000 tấn). Nguồn phát thải nhựa sinh hoạt nội địa đạt gần 18.000 tấn/ngày, là nguồn phế liệu giá rẻ nhưng phân tán và chất lượng không đồng đều.

Nội dung chương trình bày đặc tính kỹ thuật của 7 nhóm hạt nhựa:

  • Nhựa PP ((C3H6)x): Khối lượng riêng vô định hình 0,85 g/cm3, dạng tinh thể 0,95 g/cm3; độ giãn dài 250% - 700%; độ bền kéo 30 - 40 N/mm2; nhiệt độ nóng chảy 165°C; mức hút ẩm dưới 0,01%.
  • Nhựa ABS: Tổng hợp từ 3 monomer Acrylonitrile, Butadiene và Styrene; khối lượng riêng 1,05 g/cm3; nhiệt độ nóng chảy 190 - 220°C; nhiệt độ khuôn thích hợp 50 - 60°C; nhiệt độ phá hủy 310°C; độ co rút 0,4% - 0,9%.
  • Nhựa HDPE: Chịu nhiệt độ 120°C trong thời gian ngắn và 110°C trong thời gian dài; kháng dung dịch muối, axit và kiềm.
  • Nhựa PE: Chịu nhiệt độ khoảng 230°C; không tan trong nước và cồn; tan trong toluen và xylen ở khoảng 70°C.
  • Nhựa PVC: Dạng huyền phù PVC.S kích thước 20 - 150 micron và dạng nhũ tương PVC.E; tỷ trọng 1,25 - 1,46 g/cm3; phân hủy giải phóng khí độc hydro clorua (HCl) khi nhiệt độ vượt quá 140°C.
  • Nhựa PC: Chịu nhiệt trên 100°C; tan trong metyl clorid, meta crezol, dimethylformamide (DMF).
  • Nhựa PET ((C10H8O4)n): Giữ nguyên cấu trúc hóa học khi gia nhiệt đến 200°C hoặc làm lạnh ở -90°C; chống thấm khí oxy và cacbonic cao.

Về kinh nghiệm quốc tế, văn bản trích dẫn mô hình xử lý rác hữu cơ tại thành phố Nagai (Nhật Bản) giúp cắt giảm 70% lượng rác thải nhà bếp từ năm 1998, cùng thiết kế máy ảnh dùng một lần QuickSnap của hãng FujiFilm từ năm 1992 để tái sử dụng thân máy và thu hồi nhựa. Tác giả nêu đề xuất thành lập Quỹ Tái sinh môi trường với mức thu 50.000 đồng/tấn tính theo công suất thiết kế, dự kiến tạo nguồn thu 500 - 1.000 tỷ đồng/năm để xử lý ô nhiễm tại các làng nghề.

Chương II: Hiện trạng và đánh giá tác động tới môi trường của hoạt động tái chế nhựa

Chương II mô tả toàn diện chu trình kỹ thuật tái chế nhựa và đánh giá định lượng các dòng chất thải. Quy trình công nghệ bắt đầu từ phân loại nhựa phế liệu: phần không thể tái sinh được ép viên nhiên liệu đưa vào lò đốt chất thải nguy hại; phần tái sinh trải qua các bước làm sạch, sấy khô, băm nghiền, gia nhiệt kéo sợi (nhiệt độ 90 - 105°C), cắt hạt, làm nguội, sàng rung, quay ly tâm, thổi xylon và đóng gói. Dây chuyền sử dụng 7 cụm thiết bị: băng tải, bồn nhập liệu (mâm quay trên 1000 vòng/phút), hệ thống đùn, bộ phận lọc, hệ thống hút chân không, buồng cắt và sàng rung. Bốn công nghệ gia công thành phẩm gồm ép đùn (sản xuất ống), ép phun (sản phẩm gia dụng), thổi chai (công suất 100 - 200 kg sản phẩm/ngày với motor 10 - 15 mã lực) và cán tấm.

Hiện trạng và số liệu phát sinh ô nhiễm được tác giả tổng hợp qua các bảng đo đạc:

  • Ô nhiễm bụi: Bụi phát sinh từ tập kết, băm, cắt và nghiền. Tại Công ty Caisvina, lượng bụi nghiền chiếm 0,1% tổng nguyên liệu đầu vào. Số liệu đo đạc tại 2 cơ sở cho thấy nồng độ bụi tại khu phân loại và sản xuất đạt từ 0,231 mg/m3 đến 1,026 mg/m3, đều nằm dưới giới hạn 8 mg/m3 của QĐ 3733/2002/QĐ-BYT.
  • Khí thải VOC: Hơi hữu cơ sinh ra từ công đoạn nung chảy gồm Ethylene, Propylene, Vinyl Clorua, Styrene, Acrylonitrile, Butadiene. Hệ số phát thải theo tài liệu của MDEQ ghi nhận: công đoạn đùn ép phát thải 0,0706 Lb VOC/tấn; tạo chất bọt phát thải 60 Lb VOC/tấn; tạo màng phát thải 0,0284 Lb VOC/tấn và 0,0802 Lb bụi/tấn; khuôn ép phát thải 0,0614 Lb VOC/tấn và 0,1302 Lb bụi/tấn. Kết quả quan trắc tại Công ty Eva Hải Phòng (tháng 3/2018) cho thấy các chỉ tiêu vi khí hậu và khí độc đều dưới giới hạn cho phép (Styrene đạt 15,3 mg/m3 so với giới hạn 85 mg/m3; Ethylene đạt 26,6 mg/m3 so với giới hạn 1150 mg/m3; Butadiene đạt 4,2 mg/m3 so với giới hạn 20 mg/m3; CO đạt 6,31 mg/m3 so với giới hạn 20 mg/m3).
  • Nước thải: Định mức rửa 1 tấn phế liệu tiêu tốn 5 m3 nước và 25 kg hóa chất tẩy rửa (NaOH, KOH và xà phòng), tạo ra dòng thải có pH kiềm cao, hàm lượng chất rắn lơ lửng, dầu mỡ và chất hoạt động bề mặt lớn. Nước làm mát khuôn và máy được giải nhiệt tuần hoàn, hao hụt bốc hơi định kỳ bổ sung 10% lượng cấp vào mỗi ngày.
  • Chất thải rắn và chất thải nguy hại (CTNH): Nhựa hỏng trong quá trình gia nhiệt tạo sợi chiếm 1,5% nguyên liệu đầu vào; tạp chất bám dính (bụi đất, tem mác, dây buộc) chiếm 1% nguyên liệu theo QCVN 32:2010/BTNMT. Khóa luận định danh 7 loại CTNH chính kèm mã số: mực in thải (08 02 01), hộp mực in thải (08 02 04), ắc quy thải (16 01 12), bóng đèn huỳnh quang thải (16 01 06), dầu thải bảo dưỡng (17 01 07), giẻ lau dính thành phần nguy hại (18 02 01) và màng than hoạt tính hấp phụ khí (18 02 01).
  • Tiếng ồn và nhiệt độ: Máy băm phát sinh độ ồn cao nhất, lên tới 90 dBA nếu thiết bị cũ (vượt tiêu chuẩn 85 dBA). Độ ồn ghi nhận tại HTX Hoàng Minh là 82 - 87 dBA; Công ty Eva Hải Phòng là 70 - 76 dBA; Công ty Dong Yang là 64,3 - 83,7 dBA. Nhiệt độ làm việc tại Công ty Dong Yang (21,2 - 30,7°C) và Công ty Dong-A Hwasung Vina (20,9 - 23,8°C) đều nằm trong giới hạn cho phép 18 - 32°C theo QCVN 26:2016/BYT.

Tác giả đánh giá chi tiết cơ chế tác động độc học: Ethylen và Propylene gây ức chế thần kinh, mê man; Vinyl Clorua và Styrene có độc tính cao, liên quan đến nguy cơ ung thư tủy xương, ung thư máu và bạch cầu; Butadiene gây viêm mô phổi và ảnh hưởng hệ sinh sản; Xylene phá hủy niêm mạc da, ức chế thần kinh trung ương và gây tổn thương gan, thận. Nước thải hữu cơ làm suy giảm oxy hòa tan, tăng độ đục và nguy cơ lây lan vi khuẩn Coliform. Nguy cơ tai nạn lao động bao gồm chập điện, kẹt cơ học tại máy băm cắt và sập đổ kiện hàng lưu kho.

Chương III: Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Chương III đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật và tổ chức quản lý:

  • Giảm thiểu bụi và khí thải: Bố trí chụp hút cục bộ tại miệng máy nghiền và khu vực đùn ép; khí thải chứa hơi hữu cơ và VOC được dẫn qua buồng lọc bụi túi vải/cyclone rồi chuyển vào tháp hấp phụ sử dụng màng than hoạt tính trước khi thải ra môi trường.
  • Giảm thiểu nước thải: Tách riêng hệ thống thoát nước mưa và nước thải sinh hoạt; tuần hoàn nước làm mát sau khi hạ nhiệt qua tháp giải nhiệt (cooling tower); nước thải rửa nhựa phế liệu được đưa vào hệ thống xử lý hóa lý gồm song chắn rác, bể lắng cát, bể điều hòa, bể phản ứng keo tụ - tạo bông, bể lắng cặn và khử trùng; nước thải sinh hoạt được xử lý qua bể tự hoại và hệ thống xử lý sinh học.
  • Quản lý chất thải rắn và CTNH: Tận dụng nhựa phế phẩm lỗi để tái đùn ép tuần hoàn; thu gom bùn thải lắng từ bể rửa đưa đi chôn lấp; bố trí kho chứa CTNH có nền chống thấm và gờ ngăn tràn, phân loại dán nhãn theo đúng mã quy định và chuyển giao cho đơn vị có giấy phép xử lý.
  • Kiểm soát tiếng ồn, vi khí hậu và sự cố: Lắp đặt bệ đệm cao su giảm chấn cho máy băm, nghiền; bao bọc vỏ cách âm; duy trì quạt thông gió cưỡng bức trong nhà xưởng; trang bị đầy đủ nút tai chống ồn, găng tay, khẩu trang than hoạt tính cho công nhân; huấn luyện an toàn lao động, kiểm định định kỳ hệ thống điện và trang bị phương tiện phòng cháy chữa cháy.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu lượng hóa được các thông số môi trường thực tế tại các đơn vị sản xuất, tái chế nhựa ở Hải Phòng và chuẩn hóa bằng bảng tổng hợp số liệu:

Cơ sở khảo sát / quan trắc Thông số / Dòng chất thải Giá trị đo đạc thực tế Quy chuẩn / Tiêu chuẩn so sánh
HTX Bao bì Hoàng Minh Nồng độ bụi khu phân loại 0,231 mg/m3 8 mg/m3 (QĐ 3733/2002/QĐ-BYT)
HTX Bao bì Hoàng Minh Nồng độ bụi khu sản xuất 0,342 mg/m3 8 mg/m3 (QĐ 3733/2002/QĐ-BYT)
Nhà máy sản xuất hạt nhựa Lê Thiện Nồng độ bụi khu phân loại 0,693 mg/m3 8 mg/m3 (QĐ 3733/2002/QĐ-BYT)
Nhà máy sản xuất hạt nhựa Lê Thiện Nồng độ bụi khu sản xuất 1,026 mg/m3 8 mg/m3 (QĐ 3733/2002/QĐ-BYT)
Công ty TNHH Caisvina Tỷ lệ bụi phát sinh từ khâu nghiền 0,1% tổng nguyên liệu Không quy định
Công ty Eva Hải Phòng Khí Styrene khu đúc ép 15,3 mg/m3 85 mg/m3 (QĐ 3733/2002/QĐ-BYT)
Công ty Eva Hải Phòng Khí Butadiene khu đúc ép 4,2 mg/m3 20 mg/m3 (QĐ 3733/2002/QĐ-BYT)
Công ty Eva Hải Phòng Bụi lơ lửng khu đúc ép 0,079 mg/m3 4 mg/m3 (QĐ 3733/2002/QĐ-BYT)
HTX Bao bì Hoàng Minh Mức độ ồn khu tái chế 82 - 87 dBA 85 dBA (QĐ 3733/2002/QĐ-BYT)
Máy băm cũ (khảo sát) Tiếng ồn vận hành ~90 dBA 85 dBA (vượt tiêu chuẩn lao động)
Công ty TNHH Dong Yang Nhiệt độ phân xưởng 21,2 - 30,7°C 18 - 32°C (QCVN 26:2016/BYT)
Cơ sở tái chế phế liệu Định mức tiêu hao rửa 1 tấn phế liệu 5 m3 nước; 25 kg hóa chất Định mức thực tế sản xuất
Nhà máy Lê Thiện & HTX Hoàng Minh Tỷ lệ nhựa phế phẩm lỗi hỏng 1,5% tổng nguyên liệu Định mức hao hụt cơ sở

Các giải pháp và đóng góp chính của đề tài:

  • Đưa ra định mức phát sinh chất thải cụ thể (nước rửa, hóa chất kiềm, bụi băm nghiền, phế phẩm lỗi) làm căn cứ kỹ thuật cho công tác kiểm toán môi trường ngành nhựa.
  • Thiết lập sơ đồ công nghệ xử lý chuyên biệt cho từng dòng thải: tuần hoàn nước làm mát qua tháp giải nhiệt, xử lý hóa lý nước rửa phế liệu và xử lý hơi khí độc VOC bằng than hoạt tính.
  • Đề xuất các cơ chế quản lý mang tính chính sách: thành lập Quỹ Tái sinh môi trường với mức thu 50.000 đồng/tấn công suất thiết kế (dự kiến tạo nguồn thu 500 - 1.000 tỷ đồng/năm); kiểm soát giá điện sản xuất ưu đãi nhằm hạn chế tái chế tự phát tại các làng nghề; ưu tiên cấp phép công nghệ khép kín.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của khóa luận:

  • Dữ liệu môi trường chủ yếu được tổng hợp từ các báo cáo quan trắc định kỳ thứ cấp của doanh nghiệp, chưa thực hiện lấy mẫu phân tích độc lập với tần suất liên tục tại nhiều thời điểm vận hành khác nhau.
  • Đối tượng khảo sát tập trung tại địa bàn Hải Phòng với số lượng cơ sở hạn chế, chưa bao quát đầy đủ tính đa dạng của các làng nghề tái chế thủ công truyền thống ở miền Bắc.
  • Các công trình xử lý môi trường tại Chương III dừng lại ở mức đề xuất quy trình và sơ đồ nguyên lý công nghệ, chưa tính toán chi tiết kích thước xây dựng, thông số thủy lực của các bể xử lý và hạch toán chi phí đầu tư, vận hành cụ thể.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Triển khai đo đạc thực nghiệm, phân tích chuyên sâu các hợp chất hữu cơ bay hơi thứ cấp và vi nhựa trong nước thải sau xử lý.
  • Mở rộng phạm vi đánh giá hiện trạng tại các cụm công nghiệp làng nghề tái chế quy mô vừa và nhỏ.
  • Tính toán thiết kế chi tiết hệ thống xử lý nước thải rửa nhựa kết hợp thu hồi hóa chất kiềm dư nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và môi trường.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Môi trường và Công nghệ Hóa học - Vật liệu Polyme khi thực hiện đồ án, khóa luận về đánh giá tác động môi trường hoặc thiết kế công trình xử lý chất thải công nghiệp.

Khóa luận cung cấp giá trị tra cứu thiết thực ở các nội dung:

  • Bảng tổng hợp các thông số kỹ thuật, đặc tính hóa lý của 7 dòng nhựa nhiệt dẻo thông dụng.
  • Bảng hệ số phát thải các chất ô nhiễm không khí và VOC theo định mức của MDEQ đối với từng công đoạn gia công chất dẻo.
  • Danh mục định danh chất thải nguy hại kèm mã số chuẩn hóa và định mức tiêu hao nguyên nhiên liệu thực tế trong dây chuyền tái chế hạt nhựa.

Câu hỏi thường gặp

1. Định mức tiêu thụ nước và hóa chất tẩy rửa cho một tấn nhựa phế liệu là bao nhiêu?
Theo kết quả khảo sát trong khóa luận, để làm sạch 1 tấn nhựa phế liệu bám đất cát và dầu mỡ, cơ sở sản xuất cần sử dụng trung bình 5 m3 nước và 25 kg hóa chất tẩy rửa (bao gồm NaOH, KOH và xà phòng). Dòng nước thải sau rửa có độ kiềm cao, chứa cặn lơ lửng và dầu mỡ cần được xử lý hóa lý trước khi xả thải.

2. Tỷ lệ phát sinh phế phẩm nhựa lỗi hỏng và tạp chất bám dính trong quy trình tái sinh là bao nhiêu?
Số liệu khảo sát tại Nhà máy sản xuất hạt nhựa tổng hợp (xã Lê Thiện) và Hợp tác xã Bao bì Hoàng Minh cho thấy lượng phế liệu nhựa lỗi hỏng (không tạo thành sợi dài, hạt vỡ) chiếm khoảng 1,5% tổng lượng nguyên liệu đầu vào. Tạp chất bám dính (bụi bẩn, tem mác, dây đai, kim loại) chiếm khoảng 1% khối lượng nguyên liệu đầu vào theo quy định tại QCVN 32:2010/BTNMT, ngoài ra bụi phát sinh từ công đoạn băm nghiền chiếm khoảng 0,1%.

3. Thiết bị nào phát sinh tiếng ồn lớn nhất trong dây chuyền tái chế và mức ồn có vượt ngưỡng cho phép không?
Thiết bị phát sinh tiếng ồn lớn nhất là máy băm phế liệu cũ, với mức ồn lên tới 90 dBA, vượt quá tiêu chuẩn vệ sinh lao động theo Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT (quy định ngưỡng cho phép là 85 dBA). Trong khi đó, các thiết bị khác như máy ép đùn, băng tải, buồng làm mát duy trì độ ồn trong khoảng từ 40 đến 84 dBA.

4. Khóa luận ghi nhận những loại chất thải nguy hại điển hình nào trong nhà máy tái chế nhựa?
Khóa luận thống kê 7 nhóm chất thải nguy hại kèm mã định danh phát sinh từ vận hành và bảo dưỡng gồm: mực in thải (mã CTNH: 08 02 01), hộp mực in thải có thành phần nguy hại (08 02 04), ắc quy thải (16 01 12), bóng đèn huỳnh quang thải (16 01 06), dầu thải bảo dưỡng máy móc (17 01 07), giẻ lau và găng tay dính dầu mỡ nguy hại (18 02 01), và màng than hoạt tính hấp phụ khí thải đã bão hòa (18 02 01).

5. Cơ chế tài chính - chính sách nào được tác giả đề xuất để kiểm soát ô nhiễm môi trường ngành nhựa?
Tác giả đề xuất thành lập Quỹ Tái sinh môi trường do chính các doanh nghiệp tái chế đóng góp với mức thu 50.000 đồng/tấn tính theo công suất thiết kế nhà máy, ước tính thu từ 500 đến 1.000 tỷ đồng/năm nhằm tài trợ xử lý ô nhiễm tại các làng nghề và tiêu hủy lô hàng phế liệu vi phạm. Đồng thời, đề xuất phương án khống chế giá điện sản xuất ưu đãi nhằm ngăn chặn mở rộng quy mô tái chế thủ công tự phát tại các làng nghề.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Vũ Dương Khang đã phản ánh toàn diện bức tranh công nghệ, hiện trạng môi trường và rủi ro sinh thái của ngành sản xuất hạt nhựa tái sinh tại Hải Phòng trong giai đoạn 2017 - 2018. Dựa trên số liệu khảo sát thực tế và báo cáo quan trắc định kỳ, công trình đã định lượng rõ nét các nguồn phát sinh bụi, khí độc VOC, nước thải kiềm tính, tiếng ồn và chất thải nguy hại trong từng công đoạn chế biến. Hệ thống giải pháp đề xuất bao gồm các sơ đồ công nghệ xử lý dòng thải kết hợp cơ chế tài chính Quỹ Tái sinh môi trường mang tính khả thi cao, đóng góp tài liệu kỹ thuật có giá trị cho công tác quản trị và đào tạo trong lĩnh vực kỹ thuật môi trường.