CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.Tổng quan kết quả nghiên cứu về quan điểm sư phạm tương tác trên thế giới và ở Việt Nam.Trên thế giới. Tư tưởng dạy học tương tác xuất hiện từ rất sớm, khi con người nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục và luôn tìm kiếm những cách thức để nâng cao kết quả học tập.Theo thời gian, tư tưởng giáo dục đó tiếp tục được khẳng định và có nhiều bước tiến khác.Trong lịch sử của nhân loại đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra các yếu tố, vai trò cũng như các mối quan hệ tương tác của các thành tố trong hoạt động dạy học. Ông chỉ ra các nguyên tắc dạy học như: dạy học phát huy tính tích cực của học sinh, đảm bảo tính trực quan, tương tác….Tác phẩm đã trình bày tư tưởng cấp tiến, khoa học về mô hình giáo dục hiện đại mà ngày nay chúng ta đang cố gắng phấn đấu áp dụng. Comenxki chú ý phát triển mạnh mẽ năng lực nhận thức của học sinh làm bùng lên ngọn lửa khát khao tri thức nhiệt tình say mê học tập.Theo ông, để làm được điều đó phải kết hợp cái hứng thú với điều ích lợi khuyến khích tính tò mò của người học.
Helvétius (1715-1771) là nhà giáo dục người Pháp cho rằng ngoài hai yếu tố người dạy, người học thì nhân tố môi trường dạy học cũng hết sức quan trọng. Theo Helvétius có một sự tương đồng về tiếp nhận kiến thức giữa mọi người với điều kiện giáo viên có khả năng kiểm soát được môi trường xung quanh của học sinh qua tác phẩm “Con người, kiến thức và giáo dục” (1774)[3, tr. John Dewey (1859-1952) là triết gia và nhà giáo dục người Mỹ, ông cho rằng giáo viên cần phải xem trọng vốn kiến thức của mỗi học sinh, học đường không phải bao gồm lớp học mà còn ở phòng đọc sách, vườn cây, xưởng thợ….Để tăng hiệu quả dạy học, ông đề nghị học sinh nên làm việc theo nhóm, có sự tương tác, thảo luận trong nhóm. 8 Luan van Nhà tâm lý học L.Vygotsky(1896-1915) với lý thuyết dạy học biện chứng, ông cho rằng cơ chế của việc học là cơ chế kết hợp giữa cá nhân và học hợp tác, dạy học là sự hợp tác hai chiều giữa thầy và trò.
Kurt Lewin (1890 - 1947) – Nhà tâm lí học người Đức - là người khởi xướng trào lưu tương tác nhóm vào đầu những năm 40 của thế kỉ XX. Lý thuyết tương tác nhóm của Kurt Lewin đã đưa đến nhiều nghiên cứu khác về dạy học tương tác. Vào những năm 70 của thế kỉ XX, các nhà nghiên cứu sư phạm như Guy Brousseau, Claude Comiti.thuộc viện Đại học đào tạo giáo viên ở Gremnoble (Pháp) đã thiết kế các phương pháp dạy học dựa trên sự tương tác của các cá nhân trong tập thể lớp học. Họ đã đưa ra cấu trúc tác động dạy học gồm 4 nhân tố: Người dạy, người học, nội dung kiến thức và môi trường.Tuy nhiên, trong các nghiên cứu này thì yếu tố môi trường chưa được phân tích một cách bao quát hết các khía cạnh và các mặt khác nhau của môi trường dạy học.
Trong tác phẩm “Sư phạm tương tác- một tiếp cận khoa học thần kinh về dạy và học” của hai tác giả người Canada là Jean Marc Denommé và Madeleine Roy đã mở ra một quan điểm sư phạm tương tác với cấu trúc là một “bộ ba” gồm: người học, người dạy và môi trường, còn nội dung kiến thức như là một yếu tố khách quan mà người dạy muốn hướng người học chiếm lĩnh.Trong tác phẩm này, tác giả phân tích kĩ người học học như thế nào, về bộ máy học của người học.Tuy nhiên, tác phầm này vẫn chưa đề xuất các phương tiện cụ thể để thực hiện trong thực tiễn dạy học. Ở nước ta hiện nay đang tiến hành đổi mới phương pháp dạy học trong đó đặc biệt chú trọng đến người học, lấy người học làm trung tâm. Phương pháp dạy học nhằm giúp người học phát huy tính sáng tạo sáng tạo, tích cực, chủ động chiếm lĩnh trí thức. Hiện nay, dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác tương tác đang dần được phổ biến rộng rãi ở các trường.
Quan điểm sư phạm tương tác ở Việt Nam đang được quan tâm nghiên cứu và cũng đã có những kết quả nhất định như: Nguyễn Thị Bích Hạnh (2006), Biện pháp hoàn thiện kĩ năng tự học cho sinh viên ĐHSP theo quan điểm sư phạm tương tác, Luận án TS, Hà Nội. Tác giả khẳng 9 Luan van định khả năng ứng dụng quan điểm dạy học này vào quá trình dạy học, nhất là những đối tượng người học trong đào tạo nghề đem lại hiệu quả tốt. Phó Đức Hoài(2011), Phương pháp và công nghệ dạy học trong môi trường sư phạm tương tác,NXB ĐH Sư Phạm. Tác giả giới thiệu mô hình sư phạm tương tác và dạy học tích cực trong môi trường sư phạm tương tác.
Đồng thời, tác giả cũng giới thiệu một số phần mềm thiết kế giáo án điện tử theo quan điểm sư phạm tương tác. Phạm Quang Tiệp (2013), Dạy học dựa vào tương tác trong đào tạo giáo viên tiểu học trình độ đại học, luận án TS, Hà Nội. Tác giả thiết kế năm mô hình dạy học dựa vào tương tác như :mô hình dạy học dựa vào tương tác theo kiểu thông báo - thu nhận, theo kiểu kiến tạo - tìm tòi, kiểu làm mẫu - luyện tập, kiểu khuyến khích - tham gia, kiểu tình huống - nghiên cứu. Các khái niệm cơ bản 1.
Quá trình dạy học: “ Quá trình dạy học(QTDH) là chuỗi liên tiếp các hành động dạy, hành động của người dạy và người học đan xen và tương tác với nhau trong khoảng không gian và thời gian nhất định, nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học. QTDH là bao gồm quá trình dạy của giáo viên và quá trình học của học sinh. Hai quá trình nay không tách rời nhau, có liên hệ mật thiết với nhau. Trong đó giáo viên đóng vai trò tổ chức, điều khiển.
giúp học sinh tự khám phá ra tri thức. Đồng thời giáo viên còn là người cung cấp tri thức cho học sinh. Song chức năng này không phải là chức năng chính yếu trong quá trình dạy học. Phối hợp với hoạt động đó của giáo viên thì học sinh tích cực, tự giác.chiếm lĩnh tri thức nhằm đạt được mục tiêu dạy học và qua đó phát triển nhân cách của mình.
Các thành tố của quá trình dạy học Khi xem xét QTDH ở một thời điểm nhất định, thì QTDH bao gồm các thành tố như mục đích dạy học, nội dung dạy học, phương pháp, phương tiện, kiểm tra-đánh giá, hình thức tổ chức dạy học, giáo viên học sinh. 10 Luan van Mục đích dạy học là đơn đặt hàng của xã hội đối với nhà sư phạm, mục đích dạy học định hướng cho các thành tố khác trong quá trình dạy học, mục đích này được hiện thực hóa bằng nội dung dạy học, người giáo viên với hoạt động dạy, với phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học tác động đến động cơ của người học để thúc đẩy người học học tập. Sự tác động lẫn nhau giữa giữa hoạt động dạy của giáo viên và họat động học của học sinh tạo nên kết quả dạy học. Hoạt động dạy của giáo viên cũng phụ thuộc vào dạy cái gì, nghĩa là nội dung dạy học thể hiện mục đích sư phạm của hoạt động dạy.
Hoạt động học của học sinh cũng vậy, nó bị quy định bởi động cơ, nội dung dạy học, vai trò của môi trường xã hội phản ánh trong đơng đặt hàng của xã hội, trong hoạt động của giáo viên. Môi trường của QTDH bao gồm môi trường bên ngoài, đó là sự phát triển kinh tế xã hội, văn hóa, khoa học công nghệ, chúng ảnh hưởng tới những thành tố của QTDH. Ngoài ra còn có môi trường bên trong, đó là môi trường được tạo ra nên do sự tương tác giữa người giáo viên và học sinh, giữa học sinh và học sinh, cùng với việc vận dụng phương pháp, phương tiện, và hình thức tổ chức dạy học tác động vào nội dung dạy học, hướng vào thực hiện mục đích dạy học.Kĩ thuật dạy học Kĩ thuật dạy học( KTDH) là những động tác, cách thức hành động của của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Các KTDH chưa phải là các phương pháp dạy học (PPDH) độc lập.
Các KTDH vô cùng phong phú về số lượng. Bên cạnh những KTDH thông thường, ngày nay người ta đặc biệt chú trọng các KTDH phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học, ví dụ: Kĩ thuật động não, kĩ thuật tia chớp, kĩ thuật lược đồ tư duy….Phương pháp dạy học Thuật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (methodos) có nghĩa là con đường đi đếm mục đích. Theo đó, phương pháp dạy học(PPDH) là con đường để đạt đến mục đích dạy học. PPDH là những hình thức và cách thức hoạt động của GV và HS trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt mục đích dạy học.
11 Luan van Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì PPDH là cách thức làm việc giữa thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất và sự chỉ đạo của thầy, nhằm làm trò tự giác, tích cực, tự lực để đạt được mục đích dạy học. PPDH là những hình thức, cách thức hành động của giáo viên và học sinh nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù hợp với những nội dung và những điều kiện dạy học cụ thể. Mô hình cấu trúc hai mặt của phương pháp dạy học Mặt bên ngoài của PPDH: là những hình thức bên ngoài của hoạt động của GV và HS trong dạy học, có thể dễ dàng nhận biết ngay khi quan sát giờ học. Mặt bên ngoài của PPDH bao gồm: • Các hình thức cơ bản của PPDH: Dạy học thông báo (thuyết trình, biểu diễn trực quan, làm mẫu); cùng làm việc (các PP đàm thoại); làm việc tự lực của HS.
• Các hình thức hợp tác (hình thức xã hội của PPDH): dạy học toàn lớp, dạy học nhóm, học nhóm đôi và làm việc cá thể. Mặt bên trong của PPDH: là những thành phần không dễ dàng nhận biết ngay thông qua việc quan sát giờ dạy mà cần có sự quan sát kỹ và phân tích để nhận biết chúng. Mặt bên trong của PPDH bao gồm: tiến trình dạy học,các phương pháp logic: trong PPDH có thể sử dụng những phương pháp và thao tác logic nhận thức khác nhau như: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá.