Chương 1: Những vấn đề chung về đảm bảo an toàn giao thông. Chương 2: Thực trạng công tác đảm bảo an toàn giao thông trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2016 - 2018. Chương 3: Một số giải pháp đảm bảo an toàn giao thông trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. 3 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN GIAO THÔNG 1.
Một số khái niệm về đảm bảo an toàn giao thông 1. Giao thông và giao thông đƣờng bộ Khi nói đến giao thông là nói đến “việc đi lại từ chỗ này qua chỗ kia bằng phương tiện chuyên chở”. Ở mỗi thời đại và mỗi quốc gia giao thông đòi hỏi có tính tất yếu, cần thiết của quá trình phát triển đời sống xã hội. Sự phát triển của giao thông mang tính lịch sử và phụ thuộc vào trình độ phát triển của kinh tế, khoa học - công nghệ nhất định.
Xã hội càng phát triển thì đòi hỏi hoạt động giao thông nói chung phải ngày càng hiện đại, phục vụ nhanh hơn, thuận tiện hơn, văn minh và an toàn hơn. Lịch sử phát triển của xã hội loài người có thể nói từ khi còn sơ khai đến xã hội văn minh ngày nay đều gắn bó chặt chẽ với hoạt động giao thông mà trước hết là giao thông đường bộ, sau đó mới phát triển các loại hình giao thông khác như giao thông đường thủy, giao thông đường sắt, giao thông đường không. Sự phát triển của hoạt động giao thông đường bộ cũng là một trong những tiêu chí để đánh giá mức độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Theo Từ điển Tiếng Việt, đường bộ được hiểu là “đường đi trên đất liền” [72, tr.
Luật giao thông đường bộ năm 2008 quy định: “Đường bộ gồm đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ”. Như vậy, giao thông đường bộ được hiểu là việc đi lại từ chỗ này qua chỗ kia của người và phương tiện chuyên chở trên đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà qua sông, suối nối đường bộ. Giao thông đường bộ và phát triển giao thông đường bộ đang được xem xét ở nhiều góc độ kinh tế - xã hội, chính trị dưới sự tác động của sự phát triển khoa học - kỹ thuật tiên tiến. Giao thông đường bộ là một hiện tượng xã hội có xu hướng biến động mạnh mẽ ở hầu hết các quốc gia.
Bởi vì: giao thông đường bộ là một nhu cầu tự nhiên của xã hội loài người. Nhưng từng cá thể là con người hoặc tổ chức nhất định không thể tự lo để thỏa mãn nhu cầu đi lại của mình. Đặc biệt, để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường, chỉ có Nhà nước mới có thể xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông (HTGT) đường bộ. Mặc dù, ở mức độ nào đó, Nhà nước phải huy 4 động sức dân, nhưng trách nhiệm thuộc về Nhà nước.
Trách nhiệm này mang tính pháp lý được quy định trong chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Các quan hệ xã hội diễn ra trong lĩnh vực giao thông đường bộ là đối tượng quản lý của Nhà nước. Nhà nước kiểm soát, hướng dẫn, điều chỉnh các quan hệ xã hội để các quan hệ này diễn ra “trong vòng trật tự”. Các quan hệ xã hội phát sinh trong giao thông đường bộ diễn ra bởi nhiều chủ thể với những mục đích kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh khác nhau và cần được định chế hóa, quy phạm hóa và tiến tới pháp điển hóa.
Các quan hệ xã hội trong lĩnh vực giao thông đường bộ cũng như vậy, kết quả của quá trình định chế hóa, quy phạm hóa, pháp điển hóa là Luật giao thông đường bộ năm 2001 được ban hành. Tóm lại, từ vai trò tất yếu của giao thông đường bộ và những vấn đề quản lý nhà nước nêu trên là cơ sở, có tính điều kiện để nghiên cứu khái niệm về trật tự an toàn giao thông (ATGT) đường bộ và quản lý nhà nước về trật tự ATGT đường bộ. An toàn giao thông Là cụm từ dùng để chỉ các hành vi văn hóa khi tham gia giao thông bao gồm việc chấp hành luật giao thông và phải có ý thức trách nhiệm khi tham gia giao thông. Không chỉ là một thuật ngữ pháp luật, an toàn giao thông còn là sự an toàn đối với người tham gia giao thông trên mọi phương tiện.
An toàn giao thông đƣờng bộ Đây là nội dung đề cập đến các cách thức, biện pháp được sử dụng để ngăn chặn người tham gia giao thông đường bộ bị chết hoặc bị thương nặng. Những người tham gia giao thông đường bộ bao gồm: người đi bộ, người đi xe đạp, người lái các loại xe máy khác nhau, hành khách trên các loại phương tiện công cộng. Đảm bảo an toàn giao thông 1. Khái niệm đảm bảo an toàn giao thông Đảm bảo an toàn giao thông là sự tác động có hướng đích của các chủ thể quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông trong đó Cảnh sát giao thông (CSGT) là lực lượng nòng cốt; dựa trên cơ sở hệ thống pháp luật về giao thông vận tải của Nhà nước để điều chỉnh quá trình hoạt động giao thông vận tải và hành vi hoạt động của người tham gia giao thông, nhằm duy trì, ổn định và phát triển các yếu tố cấu thành hoạt động giao thông theo mục tiêu đã đề ra.
Nguyên tắc thực hiện đảm bảo an toàn giao thông: Theo quy định tại Điều 4 Luật giao thông đường bộ năm 2008, những nguyên tắc trong hoạt động giao thông đường bộ (GTĐB) bao gồm: Thứ nhất: Hoạt động giao thông đường bộ phải bảo đảm thông suốt, trật tự, an toàn, hiệu quả; góp phần phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường. Thứ hai: Phát triển giao thông đường bộ phải gắn với quy hoạch, từng bước hiện đại và đồng bộ; gắn kết phương thức vận tải đường bộ với các phương thức vận tải khác như vận tải đường thủy, đường sắt… Thứ ba: Quản lý hoạt động giao thông đường bộ được thực hiện thống nhất trên cơ sở phân công, phân cấp trách nhiệm, quyền hạn cụ thể, đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp. Thứ tư: Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ là trách nhiệm không chỉ của các cơ quan mà còn là của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội. Thứ năm: Người tham gia giao thông đường bộ phải có ý thức tự giác, nghiêm chỉnh chấp hành quy tắc giao thông, giữ gìn an toàn cho mình và cho người khác.
Chủ phương tiện và người điều khiển phương tiện phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc bảo đảm an toàn của phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Thứ sáu: Mọi hành vi vi phạm pháp luật giao thông đường bộ phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật. Theo đó, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật giao thông đường bộ có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; và nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật Ngoài ra, đảm bảo ATGT đường bộ phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng và sự quản lý điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước. Đảm bảo ATGT đường bộ là nhiệm vụ quan trọng của mọi nhà nước, là một bộ phận của quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội; vì thế cũng như nhiều vấn đề quan trọng khác của xã hội, quản lý nhà nước về đảm bảo an toàn giao thông (ĐBATGT) đường bộ phải đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng và sự quản lý điều hành của Nhà nước ở Trung ương và địa phương.
Hiến pháp 2013 khẳng định rõ Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố lãnh đạo xã hội, lãnh đạo Nhà nước. Vì vậy, quản lý nhà 6 nước về ĐBATGT đường bộ, sự lãnh đạo đó của Đảng phải được thực hiện một cách rõ ràng và đầy đủ, từ việc hoạch định chính sách, chủ trương xây dựng các công trình, kết cấu kỹ thuật ĐBATGT đường bộ, cho đến việc bổ sung điều chỉnh hệ thống pháp luật, lãnh đạo, chỉ đạo Nhà nước, tổ chức quần chúng và các cơ quan chức năng trong thực hiện các biện pháp ĐBATGT đường bộ. Mặt khác, đảm bảo an toàn giao thông đòi hỏi phải thực hiện trên cơ sở mọi nguồn lực xã hội, sức mạnh chung của toàn dân. Vì thế, với tư cách là người đại diện cho xã hội cho quyền lợi công, quyền lợi cộng đồng, Nhà nước chịu trách nhiệm đầu tiên và trước hết là việc huy động các nguồn lực cho việc ĐBATGT đường bộ, đồng thời với tư cách là cơ quan quản lý điều hành cao nhất, Nhà nước có trách nhiệm chỉ đạo, điều phối chung toàn xã hội nhằm ĐBATGT đường bộ được tiến hành khoa học, thống nhất, cân đối và toàn diện tránh sự trùng lặp, cản trở, phá vỡ nhau, gây lãng phí.
Việc kết hợp ĐBATGT đường bộ theo ngành và lãnh thổ là cần thiết và mang tính tất yếu khách quan như Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX đã nêu rõ “Phân công, phân cấp nâng cao tính chủ động của chính quyền địa phương, kết hợp chặt chẽ quản lý ngành và quản lý lãnh thổ”. Trong điều kiện mới, đổi mới cơ chế ĐBATGT đường bộ cần được tiến hành theo hướng phân cấp hợp lý hoạt động quản lý nhà nước về trật tự ATGT đường bộ giữa Trung ương và địa phương. Phương hướng cải cách bộ máy nhà nước ta một mặt bảo đảm tăng cường tính thống nhất của Nhà nước, quyền quản lý nhà nước về trật tự ATGT đường bộ tập trung của Trung ương; nhưng mặt khác mở rộng tính dân chủ, tính chủ động, quyền tự chủ của địa phương trong lĩnh vực này. Đảm bảo an toàn giao thông đường bộ phải gắn liền với Chiến lược quốc gia bảo đảm ĐBATGT đường bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và phải được thực hiện trên cơ sở mọi nguồn lực của Nhà nhước, của xã hội được huy động.