Chương 1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ, QUẢN LÝ THUẾ VÀ CHỐNG THẤT THU THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát về thuế 1.1 Khái niệm và đặc điểm của thuế 1.1 Khái niệm về thuế Thuế là là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế (Quốc hội-Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13). Thuế ra đời và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhà nước.
Đối với các quốc gia, thuế luôn là nguồn thu quan trọng, chủ yếu của NSNN, là công cụ điều tiết nền kinh tế và điều hòa lợi ích trong xã hội. Trong quá trình tồn tại và phát triển, Nhà nước cần có một nguồn tài chính nhằm trang trải những khoản chi tiêu của mình. Để phục vụ cho nhu cầu đó, Nhà nước dùng thuế là một công cụ huy động nguồn tài chính trong nhân dân và các tổ chức kinh tế vào ngân sách. Đây là khoản đóng góp bắt buộc của mọi thành viên trong xã hội.
Một quốc gia giàu mạnh cần phải có nguồn tài chính lành mạnh. Thuế là một trong những yếu tố cấu thành hệ thống tài chính. Hệ thống chính sách thuế của Nhà nước được xây dựng trên cơ sở những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội cụ thể trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Với chính sách thuế ổn định, được ban hành phù hợp với khả năng của nền kinh tế, đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn sẽ là nền tảng hỗ trợ và thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng.
Tuy có nhiều loại thuế áp dụng cho nhiều đối tượng khác nhau nhưng đối với DN chỉ áp dụng một số loại thuế, trong đó thuế GTGT, thuế TNDN được áp dụng phổ biến tại DN.2 Đặc điểm về thuế - Thứ nhất, thuế là một khoản thu của ngân sách nhà nước mang tính bắt buộc. Tính bắt buộc của thuế là tất yếu khách quan xuất phát từ đặc tính của hàng hóa công cộng. Với đặc tính của hàng hóa công cộng là có thể sử dụng chung và khó có thể loại trừ, Nhà nước luôn là chủ thể cung cấp đại bộ phận hàng hóa công cộng cho 8 xã hội nhằm đảm bảo độ thỏa dụng tối đa của xã hội, để bảo đảm nhu cầu chi tiêu công cộng, tất yếu Nhà nước phải sử dụng quyền lực của mình để bắt buộc các thể nhân và pháp nhân phải nộp thuế cho Nhà nước. Tính bắt buộc của thuế thể hiện nghĩa vụ và quyền lợi đóng góp của mọi công dân đối với lợi ích công cộng của toàn xã hội và được thể chế hóa trong hiến pháp của mọi quốc gia.
- Thứ hai, thuế là khoản thu ngân sách nhà nước mang tính chất không hoàn trả trực tiếp. Thuế không gắn trực tiếp với lợi ích cụ thể mà người nộp thuế được hưởng từ hàng hóa, dịch vụ công cộng do nhà nước cung cấp. Các thể nhân, pháp nhân thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước theo luật định không có quyền đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp trực tiếp cho họ một lượng hàng hóa, dịch vụ nào đó hoặc hoàn trả số thuế họ đã nộp đúng theo luật định. - Thứ ba, thuế là một hình thức phân phối của cải xã hội chứa đựng các yếu tố chính trị - kinh tế - xã hội.
Nhà nước đánh thuế thực chất là Nhà nước tham gia vào quá trình phân phối thu nhập của các thể nhân, pháp nhân. Qua đó, tập trung một bộ phận tổng sản phẩm quốc dân vào trong tay Nhà nước và và tiến hành phân phối lại thu nhập giữa các thể nhân, pháp nhân Nhà nước và thuế khóa là hai phạm trù gắn bó hữu cơ với nhau.Chính sách thuế của một quốc gia luôn gắn liền với bản chất chính trị của Nhà nước và lợi ích của mọi thể nhân, pháp nhân.Vì vậy, chính sách thuế luôn chứa đựng yếu tố chính trị, kinh tế- xã hội rộng lớn (Quốc hội - Luật thuế Giá trị gia tăng số 32/2013/QH13).2 Các nguyên tắc xây dựng hệ thống thuế 1.1Nguyên tắc thống nhất tập trung dân chủ Quán triệt nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ trong quản lý thu thuế được thể hiện trên các khía cạnh chủ yếu sau: - Quản lý thu thuế trước hết phải bảo đảm tuân thủ theo đúng các quy định trong các văn bản pháp luật về thuế. Các văn bản pháp luật về thuế được cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước đại diện cho dân chúng phê chuẩn, thể hiện đầy đủ nghĩa vụ và 9 quyền lợi của người nộp thuế và tổ chức, cá nhân quản lý thu thuế. Các thể nhân, pháp nhân có nghĩa vụ nộp thuế và tổ chức cá nhân thực thi nhiệm vụ quản lý thu thuế phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của các văn bản pháp luật về thuế trong suốt quá trình quản lý thu thuế như đăng ký; kê khai thuế; lập dự toán; nộp thuế vào ngân sách nhà nước; miễn giảm thuế; hoàn thuế; kế toán thuế và quyết toán thuế.
- Thống nhất quy trình, nghiệp vụ quản lý thu thuế và việc vận dụng các văn bản pháp luật về thuế trong công tác quản lý thu thuế trên phạm vi cả nước. - Thống nhất về trình tự, thời gian, yêu cầu, nội dung và hình thức mẫu biểu trong lập dự toán và quyết toán thuế. - Thống nhất việc chỉ đạo công tác quản lý thu thuế giữa cơ quan thuế cấp trên và chính quyền địa phương các cấp đối với cơ quan quản lý thu thuế ở địa phương. - Lập dự toán thuế được thực hiện từ cấp cơ sở nhưng phải đảm bảo quyền chỉ đạo, hướng dẫn và xét duyệt dự toán của cơ quan thuế cấp trên.
Cơ quan thuế cấp trên phải tổ chức làm việc với cơ quan thuế cấp dưới trong quá trình lập dự toán thuế. - Trong quá trình quản lý thu thuế phải tôn trọng việc kê khai, tự tính thuế của người nộp thuế, kết hợp với việc tăng cường công tác thanh tra và kiểm tra thuế; đồng thời tôn trọng và giải quyết thỏa đáng những kiến nghị, khiếu nại về thuế( Quốc hội - Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13).2 Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả Tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý thu thuế được đánh giá dựa trên cơ sở các chi phí phát sinh trong quá trình tổ chức thu nộp và số thuế được tập trung vào ngân sách nhà nước. Quản lý thu thuế phải đảm bảo các chi phí phát sinh từ cơ quan thu và người nộp thuế là thấp nhất, số thuế tập trung vào ngân sách nhà nước ở mức cao nhất nhưng vẫn bảo đảm nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu; hạn chế các trường hợp trốn thuế, lậu thuế, biển thủ tiền thuế và các gian lận khác về thuế.Mặt khác, bộ máy quản lý thu thuế phải được tinh giản gọn nhẹ, tổ chức hợp lý, phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm của từng bộ phận và từng cá nhân trong công tác quản lý thu thuế (Quốc hội - Luật thuế Giá trị gia tăng số 32/2013/QH13).3 Nguyên tắc phù hợp 10 Nguồn thu của thuế chính là kết quả của các hoạt động kinh tế - xã hội, vì vậy, thực trạng kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ là cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng các văn bản pháp luật về thuế và thiết lập các biện pháp quản lý thu thuế phù hợp nhằm bảo đảm cho tính thực thi của các văn bản pháp luật về thuế trong thực tiễn và bảo đảm hiệu quả của các biện pháp quản lý thu thuế. Mặt khác, xu hướng vận động tất yếu của các nền kinh tế trên thế giới là mở cửa và hội nhập; vì vậy, hệ thống thuế và các biện pháp quản lý thu thuế của một quốc gia cần thiết phải có sự phù hợp với thông lệ quốc tế (Quốc hội - Luật thuế Giá trị gia tăng số 32/2013/QH13).3 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường Để đảm bảo mục tiêu thu đúng, thu đủ thuế nhằm phát huy đầy đủ vai trò của thuế trong phát triển kinh tế xã hội, Nhà nước phải ban hành các văn bản quy phạm pháp luật chặt chẽ, phù hợp nhằm tạo một hành lang pháp lý thống nhất; bắt buộc mọi tổ chức, cá nhân phải thực hiện theo.
Để Luật pháp về thuế được đảm bảo thực hiện, Nhà nước đã tổ chức ra bộ máy để quản lý thuế và giám sát thực hiện đối với bộ máy này. Do bản chất của thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp nên việc yêu cầu người nộp thuế tự giác khi không có hệ thống luật pháp để bắt buộc là điều không thể thực hiện. Thậm chí kể cả khi có hệ thống luật pháp về thuế, nhiều tổ chức cá nhân nộp thuế vẫn cố tình không thực hiện hoặc lợi dụng kẽ hở của chính sách nhằm tư lợi. Vì vậy quản lý thuế của các cơ quan chức năng Nhà nước mang tính pháp lệnh, là một tất yếu khách quan trong quản lý kinh tế.
Quản lý thuế có vai trò hết sức quan trọng, cụ thể là: - Giúp Nhà nước thực hiện chức năng quản lý tài chính của quốc gia, điều tiết vĩ mô nền kinh tế, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đây là một trong những nội dung quan trọng nhất phát huy tối đa chức năng, vai trò của công tác quản lý thuế trong phát triển kinh tế xã hội. Ngoài ra, quản lý thuế còn thực hiện một mục tiêu quan trọng là huy động số thu cho ngân sách nhà nước, thể hiện quyền lực tối cao và sự độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý và điều hành đất nước. - Giúp Nhà nước kiểm soát nguồn thu, đánh giá thực trạng kinh tế đất nước trong từng giai đoạn, đồng thời làm cơ sở phân tích, đánh giá dự báo để xây dựng kế 11 hoạch phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Thông qua công tác quản lý thuế giúp Nhà nước nắm được các cơ chế chính sách còn bất hợp lý để sửa đổi bổ sung kịp thời phù hợp với sự phát triển của đất nước, đảm bảo sự công bằng xã hội. - Giúp Nhà nước quản lý được bộ máy thu thuế, một mặt đảm bảo bộ máy quản lý thuế vận hành trơn tru, không sai sót, mặt khác giúp hạn chế hiện tượng cán bộ thuế hám lợi bắt tay với người nộp thuế nhằm giúp họ trốn thuế và thu lợi bất chính gây thất thu cho Ngân sách. Quản lý thuế với chức năng kiểm tra, giám sát sẽ làm hạn chế các tiêu cực có thể xảy ra, đảm bảo sự công bằng trong xã hội và sự nghiêm minh của pháp luật.