CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỒ CHỨA 1. Giới thiệu chung về hồ chứa và đập vật liệu địa phương. Tổng quan về đập đất và hồ chứa. Đập đất là công trình dâng nước tạo hồ chứa rất phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
Đập đất được xây dựng từ thời sơ khai của văn minh loài người để trữ nước cho trồng trọt. Một số đập được xây dựng thời cổ xưa đã khá lớn. Một đập đất được xây dựng ở Ceylou (Xrilanca) vào năm 504 trước công nguyên dài 17 km cao 21.5 m có khối lượng đất đắp 13.Cho đến nay đập đất vẫn là loại đập được xây dựng phổ biến nhất chủ yếu do việc xây dựng đập sử dụng vật liệu tự nhiên không cần phải xử lý nhiều. Những lợi ích mà đập và hồ chứa mang lại là rất lớn, như có tác dụng giúp giảm nhẹ lũ trên sông, cung cấp nước cho vùng hạ du cũng như cho khu vực lân cận, cấp nước tưới ổn định cho sản xuất nông nghiệp, tạo nguồn nước sinh hoạt cho khu dân cư.
Ngoài ra đập đất còn tạo ra những hồ chứa với dung tích lớn, tùy vào điều kiện địa hình, địa chất, dân sinh kinh tế và nhu cầu của khu vực để tiến tới xây dựng nhà máy thủy điện, phát huy sức mạnh của nước, tạo ra điện năng, phục vụ nhu cầu thiết yếu của nhân dân cũng như của đất nước. Tình hình xây dựng đập đất và hồ chứa trên thế giới. Hồ chứa nước trên thế giới được xây dựng và phát triển rất đa dạng, phong phú. Từ mấy ngàn năm trước công nguyên đập đất được xây dựng nhiều ở Ai cập, Ấn Độ, Trung Quốc và các nước Trung Á của Liên Xô (cũ) với mục đích dâng và giữ nước để tưới hoặc phòng lũ.
Về sau, đập đất ngày càng đóng vai trò quan trọng trong các hệ thống thủy lợi nhằm lợi dụng tổng hợp tài nguyên dòng nước. Theo tiêu chí phân loại của Ủy ban quốc tế về đập lớn, hồ có dung tích từ một triệu mét khối nước trở lên hoặc có chiều cao trên 15 mét, thuộc loại hồ đập lớn. Hiện thế giới có hơn 45.340 hồ (chiếm 70%), Bắc và Trung Mỹ 4 có 8.010 hồ, Tây Âu có 4.227 hồ, Đông Âu có 1203 hồ, châu Phi 1.260 hồ, châu Đại Dương 577 hồ. Đứng đầu danh sách các nước có nhiều hồ là Trung Quốc (22.291 hồ), Nhật Bản (2.675 hồ), Tây Ban Nha (1.
Liên Bang Nga có hơn 150 hồ với tổng dung tích trên 200 tỷ mét khối nước. Các hồ lớn nhất thế giới là hồ Boulder trên sông Colorado (Mỹ) dung tích 38 tỷ mét khối nước, hồ Grand Coulle trên sông Columbia (Mỹ) dung tích 24 tỷ mét khối nước, hồ Bownrrat trên sông Angera (Nga) có dung tích gần 20 tỷ mét khối nước. Xây dựng và sử dụng hồ chứa nước trên thế giới đã trải qua lịch sử phát triển lâu đời. Cách đây hơn 6000 năm người Trung Quốc và Ai Cập đã biết sử dụng vật liệu tại chỗ để đắp đập ngăn sông suối tạo thành hồ chứa.
Thời kỳ cổ đại, hồ Vicinity tại Menphis thuộc thung lũng sông Nile (Ai Cập) có xây đập đá đổ cao 15m, dài 45m. Trong khoảng 4000 năm trước công nguyên, cùng với sự phát triển rực rỡ của các nền văn minh cổ đại Ai Cập, Trung Quốc, Hi Lạp, La Mã, Ấn Độ…kỹ thuật xây dựng hồ đập trên thế giới cũng không ngừng phát triển. Người Nam Tư xây dựng đập Mardook ở thung lũng sông Tigris. Người Saba xây dựng đập đá đổ Marib cao 32,5m dài 3.
Ngày nay, nhờ sự phát triển của nhiều ngành khoa học như cơ học đất, lý luận thấm, địa chất thủy văn và địa chất công trình. Cũng như việc ứng dụng rộng rãi cơ giới hóa và thủy cơ hóa trong thi công cho nên đập đất-đá càng có xu hướng phát triển mạnh mẽ. Cho đến nay, các nước đã xây dựng hàng nghìn đập đất.1 : Đập Nurek cao 310m, hiện là đập đất cao nhất thế giới 5 Đập đất cao nhất hiện nay là Nurek (Liên xô cũ) cao 310m, tiếp đến là Orovin(Mỹ) cao 224m và đập đất bồi cao nhất là đập Migêtraurơxcơ (Liên xô cũ) cao 80m, trong những năm gần đây, trên phạm vi thế giới đang có xu hướng xây dựng nhiều đập đất- đá cao. Tổng số những đập đất-đá có chiều cao hơn 75m xây dựng và thiết kế từ năm 1960 trở lại đây chiếm 80% trong toàn bộ các loại đập cao, đứng hàng đầu về tốc độ phát triển so với các loại đập khác.
Con số đó nói lên xu hướng và triển vọng của đập đất-đá trong sự nghiệp xây dựng công trình thủy lợi, thủy điện. Tình hình xây dựng đập đất và hồ chứa tại Việt Nam Hồ chứa ở Việt Nam là biện pháp công trình chủ yếu để chống lũ cho các vùng hạ du; cấp nước tưới ruộng, công nghiệp, sinh hoạt, phát điện, phát triển dụ lịch, cải tạo môi trường, nuôi trồng thủy sản, phát triển giao thông, thể thao, văn hóa. Theo thời gian, trước năm 1964 việc xây dựng hồ chứa diễn ra chậm, có ít hồ chứa được xây dựng trong giai đoạn này. Sau năm 1964, đặc biệt từ khi nhà nước thống nhất thì việc xây dựng hồ chứa phát triển mạnh.
Từ năm 1976 đến nay số hồ chứa xây dựng mới chiếm 67%. Không những tốc độ phát triển nhanh, mà cả về quy mô công trình cũng lớn lên không ngừng, đã có nhiều hồ lớn, đập cao ở những nơi có điều kiện tự nhiên phức tạp. Trong những năm qua Nhà nước đã đầu tư hàng chục nghìn tỷ đồng xây dựng các công trình thủy lợi lớn và nhỏ để đảm bảo tưới tiêu cho hàng triệu ha đất canh tác, ngăn mặn, cải tạo đất, giảm nhẹ thiên tai, cấp nước cho các ngành kinh tế quốc dân. Nhiều công trình mang tầm vóc thế kỷ với quy mô lớn, có kỹ thuật phức tạp đã được áp dụng các công nghệ mới từ công tác khảo sát, thiết kế, thi công, quản lý vận hành công trình.
Đó là niềm tự hào của những người làm công tác thủy lợi. Ở nước ta hồ chứa đã, đang và sẽ được xây dựng rất nhiều. Hiện nay cả nước đã xây dựng trên 2100 hồ chứa có dung tích mỗi hồ từ 0,5 triệu m3 trở lên, với tổng dung tích trữ được trên 41 tỷ m3 nước. Trong đó miền Trung và Tây Nguyên có trên 97 hồ Thủy lợi chứa hơn 2,4 tỷ m3 nước và 27 hồ Thủy điện chứa 6,4 tỷ m3 nước.
Phần lớn số đập đất tạo hồ chứa nước chiếm khoảng 90%, còn lại là đập bê tông và vật liệu khác.1: Thống kê một số đập đất ở Việt Nam Năm hoàn TT Tên hồ Tỉnh Loại đập Hmax (m) thành 1 Cây Trường Hà Tĩnh Đất 23,50 1961 2 Khuôn Thần Bắc Giang Đất 26,00 1963 3 Đa Nhim Lâm Đồng Đất 38,00 1963 4 Suối Hai Hà Tây Đất 24,00 1963 5 Thượng Tuy Hà Tĩnh Đất 25,00 1964 6 Cẩm Ly Quảng Bình Đất 30,00 1965 7 Tà Keo Lạng Sơn Đất 35,00 1972 8 Cấm Sơn Bắc Giang Đất 42,50 1974 9 Vực Trống Hà Tĩnh Đất 22,80 1974 10 Đồng Mô Hà Tây Đất 21,00 1974 11 Tiên Lang Quảng Bình Đất 32,30 1978 12 Núi Cốc Thái Nguyên Đất 26,00 1978 13 Pa Khoang Lai Châu Đất 26,00 1978 14 Kẻ Gỗ Hà Tĩnh Đất 37,50 1979 15 Yên Mỹ Thanh Hóa Đất 25,00 1980 16 Yên Lập Quảng Ninh Đất 40,00 1980 17 Vĩnh Trinh Quảng Nam Đất 23,00 1980 18 Liệt Sơn Quảng Ngãi Đất 29,00 1981 19 Phú Ninh Quảng Nam Đất 39,40 1982 20 Sông Mực Thanh Hóa Đất 33,40 1983 21 Quất Đông Quảng Ninh Đất 22,60 1983 22 Xạ Hương Vĩnh Phúc Đất 41,00 1984 23 Cống Khê Thanh Hóa Đất 18,00 1984 24 Mậu Lâm Thanh Hóa Đất 9,50 1984 25 Hòa Trung Đà Nẵng Đất 26,00 1984 26 Hội Sơn Bình Định Đất 29,00 1985 27 Dầu Tiếng Tây Ninh Đất 28,00 1985 28 Biển Hồ Gia Lai Đất 21,00 1985 29 Núi Một Bình Định Đất 30,00 1986 30 Vực Tròn Quảng Bình Đất 29,00 1986 31 Tuyền Lâm Lâm Đồng Đất 32,00 1987 32 Đá Bàn Khánh Hòa Đất 42,50 1988 7 Năm hoàn TT Tên hồ Tỉnh Loại đập Hmax (m) thành 33 Khe Tân Quảng Nam Đất 22,40 1989 34 Kinh Môn Quảng Trị Đất 21,00 1989 35 Khe Chè Quảng Ninh Đất 25,20 1990 36 Phú Xuân Phú Yên Đất 23,70 1996 37 Gò Miếu Thái Nguyên Đất 30,00 1999 38 Cà Giây Bình Thuận Đất 30,00 1999 39 Sông Hinh Phú Yên Đất 50,00 2000 40 Vũng Sú Thanh Hóa Đất 25,00 2003 41 Sông Sắt Ninh Thuận Đất 29,00 2005 42 Sông Sào Nghệ An Đất 30,00 2006 43 Easoup Đắc Lắc Đất 29,00 2005 44 Hà Động Quảng Ninh Đất 30,00 2007 45 IaM’La Gia Lai Đất 37,00 2009 46 Tân Sơn Gia Lai Đất 29,20 2009 47 Hao Hao Thanh Hóa Đất 24,2 2009 48 Trưa Vân Thanh Hóa Đất 22 2010 49 Tả Trạch Thừa Thiên Huế Đất 60,00 2012 50 Suối Mỡ Bắc Giang Đất 27,80 2012 1. Hiện trạng các hồ chứa tỉnh Hà Tĩnh. Tổng quan về các hồ chứa tỉnh Hà Tĩnh. Hồ chứa nước là công trình lợi dụng tổng hợp, cấp nước tưới, sinh hoạt, công nghiệp và phát triển các ngành kinh tế quốc dân khác, cải tạo cảnh quan môi trường sinh thái; điều tiết lũ để phòng, tránh, giảm nhẹ thiên tai, đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản nhân dân vùng hạ lưu.
Hà Tĩnh là tỉnh nằm giữa của khu vực Bắc trung bộ, có dãy Trường Sơn chạy song song với bờ biển và do phát triển ngang của dãy Hoành Sơn chắn phía Nam của tỉnh tạo thành một vùng hứng gió biển nên ở đây có lượng mưa lớn hơn các vùng khác trong tỉnh và lượng mưa trung bình nhiều năm cũng lớn hơn các tỉnh lân cận như Quảng Bình hay Nghệ An. 8 Tổng lượng mưa rơi trên địa bàn tỉnh xấp xỉ 13 đến 18 tỷ m3/năm. Tổng lượng nước đến biến động từ 10 đến 11 tỷ m3/năm. Kết hợp với địa hình nhiều đồi núi rất thuận lợi cho phát triển xây dựng hồ chứa nước thủy lợi.
Tính đến 31/12/2013 toàn tỉnh đã xây dựng được 345 hồ chứa với tổng dung tích 743 triệu m3, hiện đang đầu tư xây dựng thêm 2 hồ chứa có tổng dung tích 900 triệu m3 là hồ Ngàn Trươi và hồ Rào Trổ; và tiếp tục xem xét đầu tư xây dựng thêm khoảng 5 hồ chứa có dung tích 5 đến 10 triệu m3 nước theo quy hoạch đến năm 2020 nâng tổng dung tích các hồ chứa lên 1,7 tỷ m3 năm 2020.