CHƯƠNG I: TỔNG QUAN LƯU VỰC SÔNG CẢ - CỬA HỘI VÀ HIỆN TRẠNG KHU VỰC CẦN NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm vị trí địa lý của khu vực nghiên cứu: Hệ thống sông Cả bắt nguồn từ vùng Nậm Căn, Lào. Phần chính của dòng sông chảy qua Nghệ An, phần cuối của sông Cả hợp lưu với sông La từ Hà Tĩnh, tạo thành sông Lam đổ ra biển tại cửa Hội. Cửa Hội Hình 1.1: Bản đồ hệ thống sông Cả và cửa Hội - Sông Cả là một lưu vực lớn ở vùng Bắc Trung Bộ, có diện tích lưu vực 27.200 km2 phân bố trên lãnh thổ 2 quốc gia: Việt Nam và CHDCND Lào.
Ở Việt Nam sông Cả nằm trên địa giới hành chính của 3 tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh và Thanh Hoá. Phần lưu vực sông Cả và vùng chịu ảnh hưởng của lũ sông Cả thuộc địa phận tỉnh Nghệ An có diện tích khoảng 15.030 km2 chiếm trên 55% diện tích toàn lưu vực, với dân số hiện nay khoảng 2,1 triệu dân sinh sống từ đồng bằng, trung du đến miền núi và có 8 dân tộc anh em sinh sống, trong đó 90% dân tộc Kinh. Tổng lượng nước 21,90 km³ tương ứng với lưu lượng trung bình năm 688 m³/s và môđun dòng chảy năm 25,3 l/s. Lưu lượng trung bình năm tại Cửa Rào 236 m³/s, tại Dừa 5 430 m³/s.
Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 11, chiếm khoảng 74-80% tổng lượng nước cả năm. - Lưu vực sông Cả ở vị trí từ 18015'50" đến 20010'30" vĩ độ Bắc, từ 103045'10" đến 105015'20" kinh độ Đông. Tổng diện tích lưu vực là 27.200 km2, phần diện tích trên lãnh thổ Việt Nam là 17.730km2, chiếm 65,2% diện tích lưu vực; diện tích thuộc Lào là 9.470km2 chiếm 34,8% diện tích lưu vực. Lũ lụt gây ra ở hạ du lưu vực sông Cả do tổ hợp lũ gây ra trên các nhánh và dòng chính sông Cả.1: Phân bố diện tích lưu vực sông Cả theo địa bàn hành chính D.tích lâm Diện tích Diện tích tự nông Lưu vực nằm ở nghiệp khác nhiên (Km2) nghiệp (ha) (ha) (ha) Toàn lưu vực 27.870 CHXHCN Việt Nam 17.
Đặc điểm địa hình Lưu vực sông Cả phát triển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, nghiêng dần ra biển. Toàn bộ vùng thượng nguồn trên đất Lào có độ cao bình quân trên 1000 m. Ở địa phận Việt Nam hơn 80% diện tích là đồi núi. Bề mặt lưu vực sông Cả nằm cao so với mực nước biển trung bình nên chứa đựng một nguồn tiềm năng to lớn về thủy điện.
Sự phân cắt địa hình bởi những dãy núi cao chạy theo các hướng khác nhau dẫn đến sự phân bố mưa không đều theo không gian và thời gian trên bề mặt lưu vực làm giảm bớt mức độ cực đoan của nước ở hạ du. Dòng chính sông Cả và các nhập lưu chảy qua các vùng đồi núi có nhiều đoạn địa hình thắt hẹp là những nơi có thể nghiên cứu xây dựng các công trình lợi dụng tổng hợp nguồn nước. 6 Đồng bằng hạ du sông Cả có cao độ bình quân từ 6 - 8 m ở những nơi tiếp giáp với trung du và có độ cao từ 0,5 - 2 m ở các dải đất chạy dài ven biển, đây cùng là một yếu tố thuận lợi để sử dụng phương thức tiêu tự chảy trong vụ hè thu khi mực nước sông còn thấp và lợi dụng lúc triều ròng. Tuy nhiên, độ cao và độ dốc của bề mặt lưu vực cũng có những hạn chế lớn đối với sản xuất và đời sống của nhân dân ở lưu vực.
Trong mùa mưa lũ chính vụ có khoảng 40.000 ha đất canh tác ở đồng bằng bị ngập úng thường xuyên vì mực nước ở ngoài sông cao hơn trong đồng. Độ dốc địa hình và đáy sông lớn nên tốc độ dòng chảy về mùa lũ tăng. Lòng sông dốc, mưa lớn do đó gây xói mòn, xói lở lòng sông mạnh. Ở đồng bằng độ dốc địa hình, lòng sông nhỏ do đó năng lượng dòng nước giảm đi gây bồi tụ lòng sông, nâng cao mức xâm thực của lưu vực do đó gây xói lở ngang.
Dọc theo bờ biển là các doi cát ngăn dòng chảy thoát ra biển. Đặc biệt nhiều sông khi ra gần biển lại chảy song song với bờ biển sau đó mới chọc thủng cồn cát do đó gây khó khăn cho thoát lũ. Ở vùng cửa sông thường xuất hiện địa hình kiểu nút cổ chai, từ cầu Bến thủy đến cửa có hình thành nhiều bãi bồi gây khó khăn cho giao thông. Đặc trưng hình thái lưu vực Độ dốc Độ cao Chiều Mật độ Hệ số Hệ số DT lvực bình Lưu vực sông b.q lưới sông đối hình (km2) quân (m) (km) (km/km2) xứng dạng (km) Sông Cả 27.97 960 2,57 38,2 0,22 0,27 Sông Giăng 1.
Đặc điểm địa chất 1. Địa tầng địa chất 7 Trong vùng nghiên cứu xuất lộ gần như đầy đủ địa tầng địa chất có tuổi từ cổ đến trẻ: - Giới Proteozoi (Pt) - Giới Paleozoi (Pz) - Giới Mezozoi ( Mz) - Trầm tích đệ tứ - Các thành tạo macma xâm nhập. Cấu tạo địa chất - Đồng bằng: + Hệ Trias T 3 được cấu tạo bởi cát kết, bột kết, đá phiến sét, sét vôi, cuội kết vôi kết + Hệ Đệ tứ am IV 1-2 được cấu tạo bởi cát, bột, sét, than bùn, các tích tụ thềm sông biển + Hệ Jura J 2 được cấu tạo bởi Ryolit, đacit, cuội kết + Hệ Paleozoi Muộn- Mesozoi sớm γ5 4 được cấu tạo bởi adamelit, granit biotit sẫm màu, granit haimica chứa granat. - Miền núi + Hệ Ordovic thống thượng- Hệ silur O3-S được cấu tạo bởi đá vôi, cuội sạn kết, đá phiến, bazan + Hệ Đềvôn D1-3, D2-3, D3 được cấu tạo bởi cát kết, đá phiến, đá vôi.
+ Hệ Jura thống thượng J3-K hệ Kreta được cấu tạo bởi sỏi kết, cát kết, bột kết, sét kết màu đỏ + Hệ Đềvon- Hê Cácbon D-C được cấu tạo bởi đá phiến sét, cát kết, đá vôi, ryplit. Hệ D-C này bao trùm cả dãy Đèo Ngang. Đặc điểm thổ nhưỡng Đất đai là sản phẩm của đá mẹ, khí hậu và thảm thực vật. Chất lượng của đất đai (hoá tính và lý tính) có ảnh hưởng quyết định đến sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng.
Dựa vào những chỉ tiêu chuyên môn của ngành thổ nhưỡng, qua khảo sát, thí nghiệm các mẫu đất, Bộ Nông Nghiệp đã tiến hành thiết lập bản đồ 8 thổ nhưỡng ở lưu vực sông Cả. Dựa vào bản đồ này có thể thấy các loại đất chính ở vùng dự án là: - Đất phù sa và đất cát ven biển - Đất bùn lầy - Đất mặn - Đất Feralitic mùn vàng nhạt trên núi - Đất Feralitic trên núi - Đất Feralitic điển hình nhiệt đới ẩm vùng đồi - Đất Macgalit Feralitic - Đất lúa nước vùng đồi Ở vùng đồng bằng sông Cả có các loại đất chủ yếu là 5 loại đất phía trên. Đất đai vùng trung du khá đa dạng: các loại đất chua, đất glây hoặc glây mạnh úng nước. Ở vùng đồi chuyển tiếp từ đồng bằng lên núi, loại đất chủ yếu là Feralitic.
Đất đai ở 6 huyện miền núi chủ yếu là loại trầm tích và trầm tích có xen kẽ đá vôi. Do phải chịu ảnh hưởng tổng hợp của các nhân tố địa lý, địa hình, khí hậu, lớp phủ bề mặt. cho nên đất đai ở vùng đồng bằng và trung du sông Cả được xếp vào loại kém màu mỡ. Đặc điểm lớp phủ bề mặt lưu vực Rừng nói riêng và thảm phủ thực vật nói chung ngoài việc cung cấp gỗ, củi, lâm sản, rừng tự nhiên có tác dụng giám tốc độ tập trung nước lũ, chống xói mòn, rửa trôi các lớp đất màu mỡ trên bề mặt và xét về mặt định tính có góp phần điều hoà dòng chảy trong năm.
Rừng ở lưu vực sông Cả tập trung chủ yếu bên đất Lào và 6 huyện miền núi thuộc Nghệ An và hai huyện trung du: Hương Sơn, Hương Khê thuộc Hà Tĩnh. Trên địa phận Việt Nam, diện tích rừng che phủ bị giảm nhanh do tốc độ phát triển dân số cao ở miền núi cùng với tập quán du canh du cư của đồng bào các dân tộc. Năm 1943 toàn vùng dự án có khoảng 1, 2 triệu ha rừng, đến nay diện tích đất có rừng vào khoảng 710.000 ha chiếm khoảng 35,5% diện tích đất tự nhiên toàn lưu vực và khoảng 43% diện tích tự nhiên của các huyện miền núi và Hương Sơn, Hương Khê. Tuy rừng bị giảm 405 diện tích (tính từ năm 1943) nhưng so chung với 9 diện tích đất có rừng ở các địa phương khác như: Tuyên Quang 28%, Tây Bắc 8% thì ở vùng dự án, tỷ lệ đất có rừng ít bị tàn phá hơn nhiều.
Mặc dù rừng giàu và rừng trung bình chỉ còn từ 12 - 14% diện tích đất có rừng nhưng vai trò bảo vệ môi trường và điều hoà dòng chảy ở lưu vực sông Cả vẫn còn tốt hơn nhiều so với vai trò của rừng ở thượng nguồn sông Đà, sông Lô và sông Thao. Để khắc phục tình trạng suy giảm diện tích rừng đầu nguồn cần phải đẩy mạnh phát triển đồng bộ các ngành kinh tế- xã hội đối với miền núi và trung du vùng dự án thông qua chính sách điều động dân cư, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, thay đổi tập quán du canh, du cư lạc hậu bằng kinh tế rừng, làm thuỷ lợi đảm bảo yêu cầu tưới ổn định để giảm diện tích lúa rẫy. Đặc điểm khí tượng thủy hải văn 1. Đặc điểm khí tượng thủy văn 1.
Các loại hình thời tiết Vùng dự án chịu ảnh hưởng của các loại hình thời tiết sau: - Khối không khí cực đới lục địa châu á hoạt động từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau. Đặc điểm thời tiết là lạnh, khô, số ngày có mưa phùn từ giữa đến cuối mùa Đông nhiều hơn ở Bắc Bộ. - Khối không khí nhiệt đới ấn Độ Dương với hướng gió Tây-Nam hoạt động mạnh từ tháng 5 đến tháng 8, mạnh nhất vào tháng 7. Đặc điểm thời tiết là nóng, kho và ít mưa.
Đây cũng là thời kỳ hoạt động mạnh nhất của gió Tây Nam mà nhân dân địa phương thường gọi là gió Lào. - Khối không khí xích đạo Thái Bình Dương với hướng gió Đông Đông Nam hoạt động từ tháng 5 tới tháng 10, mạnh nhất vào tháng 2 tháng 9 và 10. Đặc điểm của khối không khí này là nóng, ẩm và gây mưa nhiều. - Các loại hình thời tiết diễn ra trong năm làm cho chế độ khí hậu của lưu vực sông Cả vừa có đặc ddiểm của chế độ khí hậu Bắc Bộ, lại vừa mang những đặc điểm khí hậu của vùng đệm chuyển tiếp của khí hậu Đông Trường Sơn, vừa mang đặc điểm thời tiết và khí hậu của vùng duyên hải Bắc Trung Bộ.