Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về giải pháp chiến lược Marketing nhằm phát triển thị trường dịch vụ tín dụng của Ngân hàng No&PTNT Thanh Trì trên địa bàn Hà Nội Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về giải pháp chiến lược Marketing nhằm phát triển thị trường dịch vụ tín dụng của Ngân hàng Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng chiến lược Marketing nhằm phát triển thị trường dịch vụ tín dụng của Ngân hàng No&PTNT Thanh Trì trên địa bàn Hà Nội Chương 4: Các kết luận và đề xuất với chiến lược Marketing nhằm phát triển thị trường dịch vụ tín dụng của Ngân hàng No&PTNT Thanh Trì trên địa bàn Hà Nội GVHD: PGS. TS Phan Thị Thu Hoài Nguyễn Thị Song Anh – 42C4 Luan van Luận văn tốt nghiệp Khoa kinh doanh thương mại CHƯƠNG II – TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC MARKETING NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG.1 Một số định nghĩa và khái niệm cơ bản 2.1 Thị trường là gì? (What is market? ) Dựa vào góc độ tiếp cận và phương pháp thể hiện mà tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về thị trường. Theo Phillip Kotler, thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn đó. Do đó, khi đề cập đến thị trường nói chung, cần đề cập đền các yếu tố: Chủ thể hoạt động của thị trường là tập hợp những người mua và những người bán, nếu thiếu một trong hai chủ thể này thì không thể tạo thành thị trường.
Nội dung hoạt động của thị trường là trao đổi sản phẩm dựa trên quan hệ hàng hóa – tiền tệ. Hoạt động trao đổi của thị trường được thực hiện trong những điều kiện không gian và thời gian xác định, tuy phạm vi có thể rất khác nhau. Chiến lược phát triển thị trường: là hệ thống các chính sách và biện pháp lớn của công ty nhằm triển khai các hoạt động Marketing để mở rộng thị trường cả về chiều rộng lẫn chiều sâu cũng như mở ra các khu vực thị trường địa lý mới.2 Khái niệm về chiến lược Marketing Hiện nay, trong các tài liệu về Marketing vẫn tồn tại nhiều khái niệm về chiến lược Marketing như dưới đây: - Theo Phillip Kotler, chiến lược Marketing được hiểu: “ Chiến lược là hệ thống luận điểm logic, hợp lý làm căn cứ chỉ đạo một đơn vị tổ chức tính toán cách giải quyết những nhiệm vụ Marketing của mình. Nó bao gồm các chiến lược cụ thể đối với các thị trường mục tiêu, đối với phức hệ Marketing hỗn hợp và mức chi phí cho Marketing”.
- Chiến lược marketing có thể hiểu là hỗn hợp của 5 yếu tố gồm định vị thị trường, định vị sản phẩm, marketing hỗn hợp, gia nhập thị trường và thời điểm. Cơ cở nền tảng để tạo ra chiến lược marketing là sự kết hợp 5 yếu tố trên nhằm hình thành nên những vấn đề cốt lõi cho hoạt động marketing. - Chiến lược marketing bao gồm việc lựa chọn, phân tích một thị trường mục tiêu, định vị trên thị trường mục tiêu tạo ra và duy trì một hỗn hợp marketing phù hợp để thỏa mãn thị trường mục tiêu này. Một chiến lược marketing hình thành một kế hoạch rõ ràng để sử dụng tốt nhất các nguồn lực và chiến thuật của ngân hàng để đạt được các mục tiêu của ngân hàng.
TS Phan Thị Thu Hoài Nguyễn Thị Song Anh – 42C4 Luan van Luận văn tốt nghiệp Khoa kinh doanh thương mại Chiến lược marketing sẽ mang ý nghĩa khác nhau với từng ngân hàng khác nhau. Chiến lược marketing sẽ thỏa mãn những nhu cầu khác nhau trong nội bộ tổ chức của ngân hàng và thị trường. Chiến lược marketing của các ngân hàng khác nhau có thể khác nhau xuất phát từ sự khác nhau dưới các góc độ như: Sự đa dạng và bản chất của thị trường phục vụ Sự đa dạng và tính phức tạp của sản phẩm và/ hoặc dịch vụ được cung cấp Bản chất khác nhau của công nghệ và quá trình xử lý được sử dụng Sự tinh vi, phức tạp của các quy trình hoạch định hiện tại Bản tính và năng lực của những người tham gia hình thành chiến lược và quá trình hoạch định Các quy tắc và giá trị của ngân hàng Bản chất của môi trường kinh doanh mà ngân hàng đang tham gia hoạt động Bản chất của hoạt động cạnh tranh trên thị trường Bản chất và nhu cầu của cổ đông và những chủ thể có liên quan khác Từ các định nghĩa trên, chúng ta có thể nhìn nhận chiến lược marketing là quá trình ngân hàng chuyển tải mục tiêu kinh doanh và chiến lược kinh doanh của mình thành các hoạt động trên thị trường.3 Dịch vụ và những khác biệt cơ bản giữa dịch vụ ngân hàng và hàng hóa 2.1 Dịch vụ và dịch vụ tín dụng. Ngày nay, chúng ta biết đến rất nhiều hoạt động trao đổi gọi chung là dịch vụ.
Và ngược lại, dịch vụ bao gồm rất nhiều các loại hình hoạt động và nghiệp vụ trao đổi trong các lĩnh vực và ở cấp độ khác nhau. Phillip Kotler định nghĩa dịch vụ: dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất. Tóm lại, có thể hiểu dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người.
Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hóa nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội. Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa Ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác với các tổ chức và cá nhân trong xã hội trong đó Ngân hàng giữ vai trò trung gian, vừa là người đi vay vừa là người cho vay. Dưới góc độ là người cho vay: khách hàng phải hoàn trả đầy đủ nợ gốc và lãi tiền vay cho NH đúng thời hạn đã thoả thuận trên HĐTD đồng thời cam kết sử dụng tiền vay theo đúng mục đích đã ghi trong HĐTD. TS Phan Thị Thu Hoài Nguyễn Thị Song Anh – 42C4 Luan van Luận văn tốt nghiệp Khoa kinh doanh thương mại Dưới góc độ người đi vay: NH sau thời gian sử dụng vốn vay của các cá nhân hay TCKT khác phải hoàn trả gốc và lãi tùy theo hình thức huy động và lãi suất tiền gửi.
→ Dịch vụ tín dụng (dịch vụ cho vay): ngân hàng thực hiện cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng bằng đồng Việt Nam hoặc các loại ngoại tệ mạnh với thời hạn chi theo 3 loại chủ yếu: Ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Dich vụ tín dụng đối với cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể được phân loại theo các tiêu chí như sau: - Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay: Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay thì tín dụng được chia thành các loại sau: Cho vay bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản như: nhà ở, đất đai. Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ. Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như: phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, công lao động.
- Căn cứ vào thời hạn cho vay: Theo căn cứ này, cho vay được chia thành 3 loại gồm: Cho vay ngắn hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay không quá 12 tháng, được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Cho vay trung hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng. Loại cho vay này chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Cho vay dài hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 60 tháng.
Mục đích sử dụng là để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như: Xây dựng nhà ở, xây dựng các xí nghiệp mới, mua các thiết bị và phương tiện vận tải có quy mô lớn. - Căn cứ vào mức độ đảm bảo tiền vay trong quan hệ tín dụng đối với khách hàng: Cho vay được chia làm 2 loại: Cho vay có đảm bảo: Là khoản vay mà Ngân hàng yêu cầu người vay vốn phải có đảm bảo bằng tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. TS Phan Thị Thu Hoài Nguyễn Thị Song Anh – 42C4 Luan van Luận văn tốt nghiệp Khoa kinh doanh thương mại Cho vay không có đảm bảo: Là khoản cho vay mà Ngân hàng không yêu cầu người vay phải có tài sản đảm bảo. - Căn cứ vào đối tượng tín dụng.
Căn cứ vào đối tượng tín dụng thì cho vay của NHTM được chia làm 2 loại: Cho vay vốn lưu động: Là loại cho vay được sử dụng để hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp hay cho vay để bù đắp mức vốn lưu động thiếu hụt tạm thời. Cho vay vốn cố định: Là loại cho vay được sử dụng để hình thành vốn cố định của doanh nghiệp như đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và các công trình mới.2 Những khác biệt cơ bản giữa dịch vụ ngân hàng với hàng hóa Tính vô hình Các dịch vụ đều vô hình. Không giống như những sản phẩm vật chất, chúng không thể nhìn thấy được, không nếm được, không cảm thấy được hay không ngửi thấy được trước khi mua chúng. Tính không tách rời Dịch vụ thường được sản xuất và tiêu dùng đồng thời.
Điều nay không đúng với hàng hóa vật chất được sản xuất ra nhập kho, phân phối thông qua nhiều nấc trung gian mua bán sau đó rồi mới được tiêu dùng. Tính không ổn định Các dịch vụ rất không ổn định, vì nó phụ thuộc vào người thực hiện dịch vụ, thời gian và địa điểm thực hiện dịch vụ đó.