PHẦN MỞ ĐẦU I. Tính cấp thiết của đề tài Trái đất đang dần nóng lên dẫn đến sự biến đổi về khí hậu và mực nước biển ngày càng dâng cao, đây là một vấn đề mang tính toàn cầu tác động tiêu cực đến mọi hoạt động về kinh tế - xã hội của mọi quốc gia trên thế giới, thậm chí nó tác động đến sự sống còn của loài người. Việt Nam - mảnh đất quê hương của chúng ta là một trong những quốc gia chịu tác động mạnh nhất do biến đổi khí hậu - xâm nhập mặn (BĐKH - XNM) gây ra, trong đó nông nghiệp - nông thôn, đặc biệt là cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh lại là lĩnh vực chịu nhiều tác động tiêu cực nhất. Theo ước tính của Ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), nếu mực xâm nhập mặn cao 1,0 m thì đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) sẽ bị ngập 5.000 km2 vùng ven biển.
Khi xâm nhập mặn sẽ gia tăng quá trình xâm nhập mặn, mặn lấn sâu hơn vào đất liền, vào mạng lưới sông, suối và các tầng chứa nước ngầm làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài nguyên nước, các công trình cấp nước nông thôn và cuộc sống trực tiếp của dân cư vùng ven biển. Nhận thức rõ tác động của biến đổi khí hậu, Chính phủ Việt Nam đã xây dựng và triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia (MTQG) ứng phó với biến đổi khí hậu. Các Bộ, ngành và địa phương đã và đang xây dựng kế hoạch hành động để ứng phó với những tác động cấp bách trước mắt và những tác động tiềm tàng lâu dài của biến đổi khí hậu. Trong những năm qua Đảng, Nhà nước ta đã rất quan tâm đến lĩnh vực cấp nước sạch nông thôn.
Sau hơn 10 năm thực hiện Chương trình MTQG nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (VSMT) trải qua 2 giai đoạn với kết quả đạt được là 83 % dân số nông thôn vùng ĐBSH được sử dụng nước hợp vệ sinh (HVS). Và Chương trình MTQG nước sạch và VSMT nông thôn tiếp tục thực hiện giai đoạn 3 từ năm 2012-2015 với mục tiêu 85% dân số nông thôn được sử dụng nước HVS trong đó 45% sử dụng nước đạt QC 02-BYT đang sẽ và tiếp tục gặp khó khăn khi diễn biến của BĐKH đang rất phức tạp như: xâm nhập mặn, thiếu nước trầm trọng 2 do mùa khô kéo dài, lũ lụt – mưa bão diễn biến bất thường với cường độ lớn và đường đi khó dự đoán. Theo kết quả điều tra về Nước sạch tỉnh Nam Định năm 2013, kết quả đạt được như sau: Tổng số dân nông thôn tỉnh Nam Định là 1.141dân, tỷ lệ được cấp nước hợp vệ sinh là 87%, trong đó số dân được sử dụng nước đạt QC02 đạt 53%. Tỉnh Nam Định tuy có tỷ lệ dân được sử nước hợp vệ sinh (HVS) ở mức cao, nhưng chất lượng nước đạt Quy chuẩn còn thấp, các loại hình cấp nước chủ yếu là quy mô nhỏ và cấp nước hộ gia đình, tính bền vững chưa cao.
Việc phát triển cấp nước tỉnh Nam Định trong thời gian qua vẫn còn nhiều bất cập, mức phát triển cấp nước còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiều địa phương đang gặp khó khăn về nước sinh hoạt, trong đó có nhiều vùng đặc biệt nghiêm trọng, người dân không có nước sinh hoạt, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và sức khỏe. Các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy BĐKH ở Việt Nam, về cơ bản phù hợp với xu thế BĐKH đã và đang xảy ra trên toàn cầu cũng như trong khu vực. Dưới tác động của BĐKH ở Việt Nam có một số biểu hiện chủ yếu sau: - Trong 5 thập kỷ gần đây hiện tượng ENSO ngày càng có tác động mạnh mẽ đến chế độ thời tiết và đặc trưng khí hậu trên nhiều khu vực của Việt Nam. - Vùng ĐBSH sẽ chịu tác động: nhiệt độ tăng lên 0,30C vào năm 2010; lên 1,10C vào năm 2050; lên 1,50C vào năm 2070 đồng thời lượng mưa trong mùa mưa tăng lên 0- (+5)%.
- Mùa bão có xu hướng chậm hơn, xảy ra nhiều trên các vĩ độ thấp và đặc biệt là cường độ bão thất thường hơn. - Mùa mưa đến muộn hơn và kết thúc sớm hơn. Cường độ mưa cao tập trung trong thời gian ngắn gây ngập lụt cục bộ tại 1 số địa phương vùng ĐBSH. - Mực nước biển đang có xu hướng dâng cao, cụ thể ở Việt Nam đến năm 2020 xâm nhập mặn cao thêm 12cm, năm 2050 là 30cm và năm 2100 là 75cm so với trung bình thời kỳ 1980-1999.
Với mực xâm nhập mặn cao 75cm thì nồng độ mặn 4‰ có thể đi sâu vào hệ thống sông Hồng – sông Thái Bình hơn 20km, và gây ngập 3 cho khoảng 10,8% diện tích đất vùng ĐBSH cũng như tăng nhu cầu dùng nước sinh hoạt đạt QC02/2009/Bộ Y tế của người dân trong vùng nhằm thích nghi với những biến đổi thời tiết. Vì vậy, Nghiên cứu giải pháp cấp nước nông thôn trong điều kiện biến đổi khí hậu là rất cần thiết, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện chiến lược cấp nước vệ sinh nông thôn đến năm 2025 và đang cùng cộng đồng quốc tế phấn đấu đạt mục tiêu phát triển của thiên niên kỷ. Nam Định là một tỉnh ven biển nằm ở phía nam đồng bằng sông Hồng, trên địa bàn của tỉnh có 3 trong số 9 cửa sông chính của hệ thống sông Hồng – sông Thái Bình, đó là các cửa sông Hồng (cửa Ba Lạt), cửa sông Ninh Cơ, cửa sông Đáy. Do vây, dưới tác động của biến đổi khí hậu – xâm nhập mặn thì nguồn tài nguyên nước của tỉnh bị tác động ra sao, mức độ, phạm vi và tiến trình xâm nhập mặn ra sao cần được nghiên cứu, làm rõ để thấy được tác động của BĐKH-NBD đến cung cấp nước sạch nông thôn.
Xâm nhập mặn do thay đổi khí toàn cầu đã, đang và sẽ ảnh hưởng bất lợi đến tài nguyên nước Nam Định, nhất là sự gia tăng cả về mức độ và phạm vi xâm nhập mặn và mạng lưới sông cũng như làm biến đổi ranh giới mặn nhạt các tầng chứa nước ngầm. Điều này sẽ làm giảm độ tin cậy của nguồn nước cấp cho các công trình cấp nước nông thôn, đặc biệt là trong mùa khô. Tính toán quá trình xâm nhập để đánh giá được tác động về BĐKH-NBD, trực tiếp là quá trình xâm nhập mặn đến nguồn nước mặt, cụ thể là tình hình xâm nhập mặn trên các trục sông chính trên địa bàn tỉnh Nam Định. Bên cạnh đó là nghiên cứu chỉ ra ranh giới mặn nhạt tầng nước ngầm cũng là một trong những nội dung của dự án.
Với kết quả của đề tài, chúng ta sẽ có biện pháp, kế hoạch cụ thể cấp nước nông thôn tỉnh Nam Định. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá các yếu tố tác động đến cấp nước nông thôn tỉnh Nam Định. Đánh giá hiện trạng cấp nước nông thôn của tỉnh Nam Định. 4 Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tới nguồn nước và cấp nước nông thôn tới năm 2050.
Đề xuất giải pháp cấp nước nông thôn trong điều kiện biến đổi khí hậu. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu * Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là hiện trạng cấp nước nông thôn. * Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu là tỉnh Nam Định. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 4.
Cách tiếp cận Tiếp cận các thành tựu nghiên cứu và công nghệ của các nước trong khu vực và trên thế giới Tiếp cận có sự tham gia của những người hưởng lợi trong các dự án cấp nước sinh hoạt Tiếp cận theoQuyết định số 1474/QĐ-TTg ngày 5/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn 2011-2020. Quyết định số 66/QĐ-BNN-KHCN của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Ban hành kế hoạch của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện kế hoạch hành động quốc gia biến đổi khí hậu giai đoạn 2012-2020. Tiếp cận thực tế: đi khảo sát thực địa, tìm hiểu các hồ sơ, tình hình hoạt động của các công trình cấp nước sinh hoạt trong tỉnh Tiếp cận đáp ứng nhu cầu: tính toán, đánh giá nhu cầu nước sinh hoạt. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng các phương pháp sau: Phương pháp kế thừa: kế thừa có chọn lọc các tài liệu, tư liệu và kết quả của các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến các nội dung nghiên cứu của luận văn.
5 Phương pháp thu thập, thống kê và tổng hợp tài liệu: sử dụng để thu thập thông tin, số liệu, thống kê, phân tích, xử lý dữ liệu đầu vào để thực hiện các nội dung nghiên cứu. Phương pháp điều tra thực địa và điều tra xã hội học: sử dụng để điều tra hiện trạng tài nguyên và môi trường, kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng… Phương pháp phân tích, xử lý, đánh giá số liệu: tất cả những số liệu thống kê từ bất cứ nguồn nào và bằng phương pháp thu thập ra sao, thì vẫn tồn tại tiềm tàng trong đó những sai số với những mức độ khác nhau. Để sử dụng tốt số liệu điều tra, khi đưa ra kết quả điều tra nên có những trình bày phân tích, xử lý, đánh giá số liệu. Phương pháp mô hình thủy lực: sử dụng dự đoán diễn biến chế độ thủy lực và xâm nhập mặn tác động đến cấp nước nông thôn.
Phương pháp chuyên gia: sử dụng để tăng thêm nguồn thông tin và độ tin cậy trong các kết quả nghiên cứu của luận văn. Tổng quan về các nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài Một số các nghiên cứu, đề tài, dự án về BĐKH và tác động của BĐKH đến tài nguyên nước đã được thực hiện, điển hình như: - Nghiên cứu “BĐKH châu Á: Nghiên cứu cho Việt Nam” do Viện Quy hoạch Thủy lợi chủ trì thực hiện năm 1994 đã có đánh giá bước đầu tác động của BĐKH tới nguồn nước, các vùng ven biển ở Việt Nam và đề xuất các biện pháp thích ứng, giảm thiểu tác hại cho các ngành kinh tế khác nhau. - Đánh giá sơ bộ tác động của nước biển dâng tại khu vực Đồng bằng sông Hồng, khu vực duyên hải miền trung, đồng bằng sông Cửu Long do ViệnQuy hoạch Thuỷ lợi, Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam và Viện Quy hoạch Thuỷ lợi Miền Nam thực hiện năm 2008 theo yêu cầu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Kết quả tính toán được dựa trên 2 kịch bản: nước biển dâng 0,69 cm và 1m.
Kết quả cho thấy với cả 2 kịch bản, đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng và khu vực Duyên hải miền Trung sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề từ ngập lụt và xâm nhập mặn.