Chương 1 Cơ sở lý luận về thủ tục hành chính, cải cách thủ tục hành chính đối với hoạt động của các trường đại học công lập Chương 2: Thực trạng thủ tục hành chính trong các trường đại học công lập Việt Nam Chương 3: Giải pháp cải cách thủ tục hành chính trong các trường đại học công lập hiện nay Dưới đây là nội dung chi tiết của các chương, mục trong luận án. 9 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Nghiên cứu về TTHC nói chung và TTHC, cải cách TTHC trong hoạt động của các trường ĐH là vấn đề rất được các nhà chuyên môn cũng như nhiều người hoạt động thực tế ở trong cũng như ở ngoài nước quan tâm. Dưới đây chúng tôi xin trình bày một cách tổng quan những nội dung của vấn đề này đã được những người đi trước chúng tôi nghiên cứu, những điều đã được giải quyết và những tồn tại cần tiếp tục xem xét hoặc để bổ sung thêm, hoặc để làm sâu sắc hơn các vấn đề được đặt ra trong luận án. Phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án đã được công bố ở trong và ngoài nước 1.
Các nghiên cứu ở ngoài nước Khái niệm TTHC từ lâu đã được các nhà hành chính trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Dưới đây là một số vấn đề mà chúng tôi đã tìm hiểu được. Về khái niệm thủ tục, thủ tục hành chính Ở Pháp, theo cuốn Bách khoa toàn thư Pháp (1994) [187, pp.824] và cuốn Từ điển Bách khoa Pháp (1999), định nghĩa thì, “Thủ tục là toàn bộ những quy tắc phải theo, những phương pháp tiến hành phải thực hiện đối với việc thiết lập một số quyền hay một số tình huống về pháp lý. Ví dụ: thủ tục ly hôn”[188, pp.
Mặc dù khái niệm trên không nói một cách cụ thể về: trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện, chủ thể quy định TTHC, nhưng có thể nói, đây là một trong những quan niệm có ảnh hưởng nhiều đến các nghiên cứu về khái niệm thủ tục, TTHC của các nhà khoa học, các nhà luật học ở Việt Nam nhiều năm qua. Bằng chứng là trong các nghiên cứu về Luật hành chính, Thuật ngữ hành chính và Giáo trình giảng dạy về TTHC của Học viện hành chính ở Việt Nam đều có đề cập và nhắc lại các khái niệm này. Chúng khá ngắn gọn và tương đối đầy đủ, có giá trị thực tế và có tính lịch sử, rất đáng để tham khảo sử dụng trong quá trình nghiên cứu và trình bày các vấn đề về lý luận TTHC. Trong giáo trình về Luật hành chính của Nga (đã dịch ra tiếng Việt) cũng có một định nghĩa tương tự về TTHC.
10 Ở Trung Quốc, theo Luật 168 thì “TTHC có một lịch sử lâu dài., được thiết kế để đảm bảo hiệu quả hành chính. TTHC là trung tâm của quá trình ra quyết định hành chính”[185]. Còn theo Đạo luật TTHC, “TTHC là hành vi hành chính của Luật cơ bản cung cấp cho các cơ quan hành chính các phương pháp hành động hành chính, quy trình, thủ tục, thời hạn, điều chỉnh các cơ quan hành chính và đối tác hành chính trong quản lý hành chính của mối quan hệ xảy ra trong hệ thống chỉ tiêu pháp lý. Các nguyên tắc cơ bản của TTHC bao gồm các nguyên tắc công khai, công bằng, theo nguyên tắc tham gia, các nguyên tắc xem xét, nguyên tắc hiệu quả, nguyên tắc thứ tự, nguyên tắc của chương trình một cách kịp thời.
TTHC làm luật, chống lạm dụng quyền lực công cộng, kiểm soát, bảo vệ nhân quyền, bảo vệ công dân quyền cơ bản và quyền tự do, chuẩn hóa hành vi hành chính, duy trì trật tự cạnh tranh thị trường, chuẩn hóa và đơn giản hóa TTHC”[186]. Các quan niệm trên đã ảnh hưởng đến quá trình nghiên cứu và xây dựng TTHC ở Việt Nam. Trong bản Dự thảo Luật TTHC của Việt Nam công bố và xin ý kiến góp ý ngày 10/10/2007 (có 31 điều), có nhiều điểm như: Quy định về nguyên tắc TTHC; Thẩm quyền quy định TTHC; Yêu cầu đối với việc quy định TTHC; Cách thức thực hiện rà soát, đánh giá TTHC; Công khai TTHC; Thẩm quyền tiếp nhận, xử lý; Trình tự xử lý phản ánh, kiến nghị; Quyền và trách nhiệm của cá nhân, tổ chức và cơ quan hành chính khá gần với Đạo luật TTHC của Trung Quốc nhưng nội dung điều chỉnh, cách thức điều chỉnh. chúng tôi nhận thấy có chỗ hẹp hơn.
Thủ tục hành chính trong hoạt động của các trường Đaị học ở một số nước Qua một số thông tin được công bố trên các trang mạng của các trường ĐH một số nước như: ĐH Hawaii, ĐH Idaho, ĐH Tiểu bang Georgia, ĐH Virginia Mỹ; ĐH Torodo Canada; ĐH Oslo Na Uy. chúng ta thấy có khá nhiều quy định chi tiết về TTHC trong hoạt động của nhà trường. Trang mạng của trường ĐH Oslo, Na Uy (University of Oslo) đã đưa ra định nghĩa: “TTHC tại trường ĐH được quy định bởi các hành vi hành chính. Hành động này chúng ta có thể tìm thấy trong các quy định, quy chế, nội quy, các hướng dẫn thực hiện, quyết định cá nhân và các kháng cáo.
Mỗi trường ĐH sắp xếp việc nhập học của SV theo thủ tục riêng của họ”[173]. 11 Theo quan điểm này, TTHC ở đây được hiểu rất rộng và có tính nội bộ: “Hành vi hành chính.trong các quy định, quy chế, nội quy”, thậm chí trong các: “hướng dẫn thực hiện, quyết định cá nhân. Đáng chú ý là tính tùy nghi của TTHC: “Mỗi trường ĐH sắp xếp việc nhập học của SV theo thủ tục riêng của họ”. Trên thực tế quan niệm này có phần giống với hiện trạng trong nhiều trường ĐH ở Việt Nam, nhưng xét về mặt lý luận không đơn giản để được công nhận.
Chúng ta đều biết Việt Nam chỉ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật mới được ban hành TTHC. Tuy nhiên, quan điểm và cách thức thực hiện này là phần gợi mở tốt cho tác giả luận án kế thừa và đề xuất việc ban hành Bộ quy trình thủ tục giải quyết các công việc trong nội bộ các trường ĐHCL ở Việt Nam. Nó rất có ích cho nghiên cứu vấn đề cải cách TTHC trong hoạt động các trường ĐHCL ở Việt Nam với chủ trương tập trung vào cải cách cách thức việc thực hiện TTHC trong hoạt động nhà trường. Vấn đề cải cách hành chính và cải cách thủ tục hành chính Trong việc nghiên cứu những vấn đề về CCHC và cải cách TTHC cần phải kể đến cuốn sách của hai tác giả: S.
Chiavo Campo và P. Sundaram thuộc Ngân hàng phát triển châu Á “Phục vụ và duy trì: Cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh” (Nxb Chính trị quốc gia, 2003). Ở đây, khi đề cập đến tính hiệu quả kinh tế của cải cách TTHC các tác giả cho rằng: “Về mặt tổng thể, quy trình sẽ trở nên vô nghĩa nếu không tính đến hiệu quả, nhưng ngược lại, nếu quá tập trung vào kết quả mà không quan tâm đến việc bảo vệ các quy định công bằng và quy trình đúng đắn thì cũng không thể có những cải thiện bền vững được”[57, tr. Đây là một trong những quan điểm cảnh báo rất sâu sắc về quan hệ giữa tính hiệu quả và sự công bằng với tính đúng đắn của pháp luật.
Sự thiên lệch cái này có thể sẽ làm hỏng cái kia. Chiavo Campo và P. Sundaram cũng cho rằng: “Bên cạnh số lượng quá dư thừa các quy định ở các nước đang phát triển là tình trạng bừa bãi và mâu thuẫn của các văn bản. Nhiều văn bản có các quy định bỏ ngỏ và mơ hồ đã buộc công dân phải tuân theo ý muốn chủ quan của các viên chức nhỏ nhen”[57, tr.
12 Chúng tôi cho rằng cách đánh giá như vậy rất đáng để ý khi liên hệ với tình trạng của Việt Nam. Không ít nhà chuyên môn từng nhận xét: “Hệ thống pháp luật nước ta còn phức tạp, cồng kềnh, nhiều tầng nấc. Nhiều VBQPPL mâu thuẫn, chồng chéo, thậm chí trái với văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên, những quy phạm lỗi thời chưa được kịp thời phát hiện, loại bỏ hoặc có những lĩnh vực cần điều chỉnh thì lại chưa có quy định”[169]. Đây có thể nói là thực trạng chung mà nhiều nhiều nước đang phát triển trên thế giới đang phải đối mặt.
Thực tế là cải cách TTHC nói chung và và cải cách TTHC trong hoạt động các trường ĐHCL ở Việt Nam đang có nhiều khó khăn, gai góc. Chúng đòi hỏi phải cẩn trọng khi nghiên cứu lĩnh vực này. Ở Trung Quốc, Tất Tiểu Bình thuộc ĐH Trung Sơn có chuyên khảo nghiên cứu khá công phu “Thiết kế đánh giá công tác sinh viên", trong đó đã nghiên cứu các vấn đề như: lý luận công tác SV; tổ chức công tác SV; đội ngũ công tác SV; nội dung đánh giá công tác SV; tin học hóa công tác SV; xây dựng lưu trình (quy trình, thủ tục) công tác SV. Ví dụ sơ đồ mô tả lưu trình (quy trình thủ tục) cho vay trợ học của Nhà nước trong tác phẩm này rất cụ thể và đáng cho chúng ta tham khảo[37, tr.
Sơ đồ mô tả trong cuốn sách này cho thấy quy trình thủ tục cho SV vay trợ học khá cụ thể. Tuy nhiên cuốn sách chủ yếu chỉ đề cập đến một lĩnh vực duy nhất là thiết kế đánh giá “công tác SV”. Luận án tham khảo ở đây phần quy trình, thủ tục giải quyết các công việc liên quan đến công tác SV. Các vấn đề khác không được đề cập nhiều trong cuốn sách này.
Ở Trung Quốc còn có tác giả Cận Nhị Bân với cuốn sách “Kinh tế giáo dục"[36] viết khá công phu. Ở đây tác giả tập trung chủ yếu nghiên cứu mối quan hệ giữa giáo dục và kinh tế, đầu tư giáo dục, hiệu suất kinh tế giáo dục, hiệu quả kinh tế giáo dục, kinh tế trí thức và giáo dục, tài sản giáo dục, kinh doanh giáo dục, quyền sở hữu giáo dục. Cuốn sách không trực tiếp nói về TTHC nhưng chúng tôi cho rằng vẫn rút ra được từ cuốn sách này những ý nghĩa nhất định có liên quan đến TTHC như: cơ sở khoa học khi thiết kế giáo dục, giảm thiểu chi phí liên quan đến giáo dục, tính hiệu quả kinh tế giáo dục là những nội dung liên quan đến cải cách TTHC trong hoạt động của nhà trường. 13 Như vậy, ở nước ngoài vấn đề TTHC trong hoạt động của các trường ĐH đã được đề cập trong thực tiễn hoạt động khá nhiều.