CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ngoài nước Trong sự nghiệp giáo dục, bồi dưỡng chuyên môn có vai trò quan trọng đối với giáo viên. Xu thế phát triển GD-ĐT đã đặt ra những yêu cầu mới đối với đội ngũ GV và các nhà QLGD, vì chính họ là nhân tố quan trọng đóng vai trò quyết định chất lượng giáo dục.
Các quốc gia trên thế giới đều coi hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GV là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục. Triết lý giáo dục các quốc gia, nhà trường, ngành giáo dục theo đuổi là học tập thường xuyên và học tập suốt đời nhằm bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội. Raja Roy Singh - nhà giáo dục người Ấn Độ trong tác phẩm Nền giáo dục cho thế kỷ XXI: Những triển vọng Châu Á - Thái Bình Dương đã viết: “GV giữ vai trò quyết định trong quá trình giáo dục và đặc biệt trong việc định hướng lại giáo dục. Chất lượng của một hệ thống giáo dục không thể vượt qua chất lượng của các GV trong hệ thống đó” [17].
Ở Nhật Bản “không có chuyện GV có chuyên môn chưa đạt cao mà bị sa thải hay làm ngơ, mà sẽ được tham gia những khóa học giúp GV nâng cao chuyên môn và trình độ của mình”. Bởi vậy, vai trò và sứ mệnh của GV là đặc biệt quan trọng. Muốn vậy, GV phải thường xuyên bồi bổ kiến thức bằng cách học suốt đời. Ở Singapore hằng năm các giáo viên cần phải tham gia ít nhất 100 giờ đào tạo bồi dưỡng, với nhiều hình thức khác nhau.
Các khóa học ở Viện Giáo dục Quốc gia thường tập trung vào các nội dung môn học và sư phạm học. Qua các buổi bồi dưỡng, các giáo viên không chỉ nắm bắt được những vấn đề đang xảy ra trong các hoạt động dạy học hàng ngày mà còn được giới thiệu những phương pháp dạy học mới. Mỗi nhà trường đều có một quỹ riêng để có thể sử dụng cho việc phát triển giáo viên, bao gồm cả việc hình thành, phát triển những tư tưởng, quan điểm giáo dục, dạy học mới qua việc đi ra nước ngoài để tìm hiểu thêm về nền giáo dục của các nước trên thế giới. hoạt động phát triển chuyên môn cho giáo viên Singapore nhằm giúp các giáo viên cập nhật những kiến thức tiến bộ về môn 6 học, nâng cao năng lực và các kĩ năng sư phạm, sự thích nghi với môi trường học tập mới, giúp cho giáo viên có thể tạo ra những sự thay đổi phù hợp trong chương trình dạy học cũng như các hoạt động dạy học trong thực tế, hỗ trợ trao đổi thông tin và kinh nghiệm dạy học giữa các giáo viên cùng chuyên môn.
Tại Philippines, hoạt động bồi dưỡng giáo viên tổ chức theo kế hoạch lần lượt vào dịp hè. Hè thứ nhất bồi dưỡng các nội dung môn học, nguyên tắc dạy học, tâm lý học và đánh giá. Hè thứ hai bồi dưỡng các môn học về quan hệ con người triết học, nội dung và phương pháp giáo dục. Hè thứ ba bồi dưỡng nghiên cứu giáo dục, viết tài liệu giám sát trong giáo dục.
Hè thứ tư bồi dưỡng kiến thức nâng cao, kỹ năng nhận xét, vấn đề lập kế hoạch giảng dạy (http://giaoducthoidai.2017) [6] Có thể nhận thấy, các quốc gia hiện nay đều coi trọng hoạt động bồi dưỡng phát triển chuyên môn cho giáo viên và gắn hoạt động này với công cuộc đổi mới giáo dục không ngừng diễn ra. Các hoạt động phát triển chuyên môn cho giáo viên được thực hiện ngày càng có tính thực tiễn cao, gắn liền với các hoạt động nhà trường đồng thời dựa trên cách tiếp cận nghiên cứu khoa học mà ở đó có các hoạt động phân tích lí luận và thực tiễn sâu sắc. Trong các hoạt động bồi dưỡng, phát triển chuyên môn, giáo viên được làm việc trực tiếp và tương tác sâu với các chuyên gia, các nhà nghiên cứu giáo dục và những người đào tạo giáo viên. Ở đó, vai trò của họ là những người học tích cực đồng thời là những người hợp tác, đồng thiết kế và là những người thực hiện, triển khai các ý tưởng từ chương trình vào trong thực tế lớp học.
Họ được tham gia vào một cộng đồng học tập chuyên nghiệp giúp họ có thể có những biến chuyển sâu sắc trong nhận thức cũng như trong các hoạt động thực hành dạy học ở trên lớp, từ đó dần phát triển chuyên môn và năng lực nghề nghiệp của mình. Những nghiên cứu trong nước Trong những năm gần đầy, sự phát triển giáo dục đã làm nảy sinh ở GV nhu cầu được học tập, bồi dưỡng, được liên kết với nhau để cống hiến và họ đã ý thức sâu sắc rằng muốn cống hiến được nhiều hơn nữa thì phải tích lũy tri thức ngày càng nhiều; muốn tích lũy tri thức thì mỗi cá nhân phải thường xuyên được bồi dưỡng và học tập suốt đời. Nhận thức được tầm quan trọng của đội ngũ GV, có nhiều công trình quản lý khoa học về quản lý giáo dục cũng đã nói đến vấn đề làm thế nào để nâng cao chất lượng đỗi ngũ GV, yếu tố quyết định chất lượng giáo dục hiện nay. Ở nước ta, 7 trong lĩnh vực giáo dục, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về bồi dưỡng chuyên môn cho GV ở từng bậc học học.
Đề tài cấp Bộ, mã số KX 07 - 14 của tác giả Nguyễn Minh Đường “Vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực mới trong điều kiện mới” đã đề cập đến vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực, trong đó có đào tạo và bồi dưỡng lại đội ngũ GV [17, tr. Tác giả Trần Bá Hoành, với bài viết “Bồi dưỡng tại chỗ và bồi dưỡng từ xa”, đã đưa ra một số biện pháp quản lý BDGV[9]. Tác giả Bùi Thị Loan (2007), trong bài viết “Về công tác bồi dưỡng GV trung học phổ thông hiện nay” [11], đã đề cập đến thực trạng chất lượng và điều kiện của công tác đào tạo bồi dưỡng GV hiện nay. Đề xuất các giải pháp là cần quan tâm bồi dưỡng đội ngũ CBQL trường THPT về năng lực đánh giá, phân loại GV, trong đó chú ý nhiều đến kỹ năng phân loại năng lực GV, kỹ năng tác động đến GV, kỹ năng huy động các nguồn lực từ phía GV.
Cần bồi dưỡng cho hiệu trưởng năng lực thiết kế nội dung, xây dựng chương trình bồi dưỡng GV, huấn luyện cho GV năng lực nhận biết, hiểu đối tượng giáo dục và kỹ năng cơ bản sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý chuyên môn. Tác giả Trịnh Hùng Cường (2009) với luận văn “Thực trạng và biện pháp quản lý BDGV trường THPT ở các huyện trong tỉnh Cà Mau” đã nêu lên thực trạng công tác quản lý hoạt động BDGV trường THPT ở các huyện trong tỉnh Cà Mau và đề xuất các biện pháp cải tiến [4]. Tác giả Nguyễn Thị Thanh Trúc (2011) với luận văn “Thực trạng quản lý hoạt động BDGV ở các trường THPT thành phố Hồ Chí Minh” đã nêu lên thực trạng về quản lý hoạt động BDGV ở các trường THPT thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất các biện pháp để nâng cao chất lượng công tác này [5]. - Tác giả Lê Hiền Thu (2012) với luận văn “Biện pháp tăng cường quản lý bồi dưỡng đội ngũ GV Trường Trung cấp Y tế Hòa Bình trong bối cảnh hiện nay” đã nêu thực trạng và đề xuất các biện pháp tăng cường quản lý bồi dưỡng đội ngũ GV Trường Trung cấp Y tế Hòa Bình trong bối cảnh hiện nay [6].
Các công trình nghiên cứu đã tập trung đề xuất những biện pháp quản lý công tác BDGV trong điều kiện từng địa phương. Ở Đà Nẵng, đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về quản lý hoạt động BDCM ở trung tâm GDTX cấp thành phố. 8 Có thể thấy, những nghiên cứu nước ngoài cũng như ở Việt Nam đã đề cập nhiều đến tầm quan trọng của việc bồi dưỡng chuyên môn cho GV và đề xuất những biện pháp quản lý công tác BDCM trong điều kiện từng địa phương. Ở Đà Nẵng, đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về quản lý hoạt động BDCM cho GV ở trung tâm GDTX cấp thành phố.
Điều đó khẳng định tính cấp thiết của đề tài với mục đích tìm ra những biện pháp quản lý để nâng cao hiệu quả hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GV tại các Trung tâm GDTX ở Thành phố Đà Nẵng. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý, quản lý giáo dục *Quản lý Khái niệm về quản lý có nhiều cách định nghĩa khác nhau dựa trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau. QL là một hiện tượng xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, mọi thời đại.
Thuật ngữ QL đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một khái niệm thống nhất. Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều khái niệm QL từ các góc độ khác nhau: F.Taylo (1856-1915), người đề xuất thuyết “Quản lý khoa học” cho rằng: Quản lý là biết được điều bạn muốn người khác làm, và sau đó thấy được họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Hoạt động quản lý ở bất kỳ tổ chức nào cũng đều có các hoạt động cơ bản liên quan đến các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra trên cơ sở thu thập và xử lý thông tin. Thuật ngữ “quản lí” được sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực, cũng có nhiều tác giả trong nước và quốc tế đứng trên các phương diện khác nhau để đưa ra những định nghĩa với các nội hàm khác nhau về quản lí, tùy thuộc vào cách tiếp cận.
Theo tác giả Michel Develay trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu của quản lí” đã định nghĩa: “Quản lí là thiết kế một môi trường mà trong đó con người cùng làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành mục tiêu nhất định trong những điều kiện thời gian, công sức và kinh phí bỏ ra ít nhất nhưng hiệu quả cao nhất” [8]. Tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lí là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí (người quản lí) đến khách thể quản lí (người bị quản lí) trong tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận 9 hành và đạt được mục đích của tổ chức” [7].