MỞ ĐẦU Bảo hộ lao động có vai trò ý nghĩa to lớn tới sự phát triển bền vững đất nước. Làm tốt công tác bảo hộ lao động chính là bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động và là điều kiện cho sự phát triển ổn định kinh tế – xã hội. Bảo hộ lao động bao gồm hai vấn đề lớn: vấn đề thứ nhất là hệ thống chính sách về lao động, vấn đề thứ hai là an toàn vệ sinh lao động. Trong bộ luật lao động đã chỉ rõ trách nhiệm từ phía nhà nước, các bộ, ngành, địa phương, người sử dụng lao động, người lao động trong đó có tổ chức công đoàn đối với công tác bảo hộ lao động.
Xét cho cùng thì vấn đề bảo hộ lao động là một vấn đề chung và có ảnh hưởng tới mọi khía cạnh xã hội, môi trường. Vì vậy thực hiện công tác bảo hộ lao động là trách nhiệm không của riêng ai và cũng đem lại lợi ích thiết thực cho mọi đối tượng liên quan song chủ yếu nhất vẫn là lực lượng lao động. Công tác này ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người lao động vì; khi các chính sách lao ộng đ không phù hợp, điều kiện lao động xấu là một trong những nguyên nhân gây ra tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, nó ả nh hưởng tới sức khỏe của hàng chục triệu người lao động, ốm đau, giảm năng xuất lao động, tay nghề, kiến thức lao động bị hao mòn, niềm tin vào sự phát triển của đất nước bị giảm sút và quan trọng hơn là họ không thể sản sinh ra lực lượng lao động kế cận thông minh khỏe mạnh khi mà chính bản thân họ luôn phải lao động trong môi trường có nhiều yếu tố nguy hiểm và độc hại. Đặc biệt trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nền kinh tế mở cửa hội nhập với khu vực và thế giới, các sản phẩm làm ra không chỉ tiêu chuẩn hóa về mẫu mã, giá thành, chất lượng mà còn bao hàm cả tiêu chuẩn xã hội trong từng sản phẩm như các vấn đề về an toàn vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường.
Nhiều nhà sản xuất lớn trên thế giới đã coi vấn đề chất lượng an toàn vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường của cơ sở là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc lựa chọn đối tác liên doanh. Vì vậy công tác bảo hộ lao động ngoài những ý nghĩa như trên thì hiện nay trong giai đoạn hội nhập công tác này là đi ều kiện sống còn của các doanh nghiệp. Trong những năm qua Đảng và Nhà Nước luôn coi công tác bảo hộ lao động là một trong những mối quan tâm hàng đầu của mình và đã có nhiều cố gắng trong công tác chỉ đạo triển khai xây dựng hệ thống tổ chức quản lý, hệ thống luật pháp các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo triển khai công tác bảo hộ lao động rộng rãi trên cả nước. Mặc dù đã có sự quan tâm của Đảng, sự nỗ lực không ngừng của các ngành, các cơ quan chức năng trong thời gian qua để thực hiện công tác bảo hộ lao động, song bên cạnh những thành tựu đạt được về một số mặt thì công tác này còn bộc lộ nhiều yếu kém chưa đáp ứng kịp sự phát triển của tiến độ sản xuất.
Bảo hộ lao động là tập hợp các biện pháp về mặt phát luật, kinh tế, khoa học, kỹ thuật, quản lý và các biện pháp khác nhằm đảm bảo sức khỏe và khả năng làm việc của con người hay nói cách khác Bảo hộ lao động có tính ch ất đa ngành và liên quan tới nhiều khía cạnh nên để thực hiện tốt công tác này cần có sự thực hiện trên nhiều mặt và nhiều ngành khoa học liên quan, sự tham gia của mọi tổ chức, ban ngành, bên cạnh đó cần phải có chính sách và mục tiêu cụ thể, rõ ràng mới mong cải thiện được tình trạng bảo hộ lao động hiện nay. Một trong những vấn đề quan trọng, theo tác giả đó là sự quản lý của Nhà nước từ các ngành, các cấp - cho tới người sử dụng lao động và 4 người lao động. Đây là vấn đề mang tính chất quốc gia nó đòi hỏi sự nghiên cứu cấp nhà nước để định ra chiến lược chung cho vấn đề bảo hộ lao động. Dưới góc độ tương lai là một kỹ sư bảo hộ lao động, với nhiều hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm thực tế.
Tác giả của luận văn này chỉ đề cập tới một trong những vấn đề thực sự bức xúc của công tác bảo hộ lao động hiện nay đó là việc vi phạm tiêu chuẩn an toàn vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường ở cấp cơ sở. Theo một số công trình nghiên cứu và thống kê cho th ấy hầu hết các cơ sở sản xuất trong cả nước tuy ở mức độ khác nhau nhưng vẫn còn vi phạm về an toàn vệ sinh lao động. Qua sự phân tích các nguyên nhân dẫn đến thực trạng mất an toàn của các cơ sở sản xuất trong vài năm lại đây ta thấy, nguyên nhân sâu xa nhất đó chính là sự thiếu hiểu biết của người lao động, người sử dụng lao động và cán bộ chuyên trách làm công tác bảo hộ lao động, thiếu các tiêu chuẩn đánh giá thực trạng an toàn công tác bảo hộ lao động ở cơ sở. Do vậy theo tác giả một sô vấn đề cần khắc phục hiện nay là: – Làm sao cho người lao động, người sử dụng lao động và cán bộ chuyên trách bảo hộ lao động ý thức được tính tất yếu của công tác bảo hộ lao động và bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển kinh tế xã hội.
– Làm sao cho người lao động, người sử dụng lao động và cán bộ chuyên trách bảo hộ lao động có đủ kiến thức, trách nhiệm và nghĩa vụ của họ đối với công tác an toàn vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường. – Làm sao để cán bộ chuyên trách bảo hộ lao động có đủ kiến thức, kinh nghiệm đánh giá được thực trạng an toàn vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường vì đây là khâu quan trọng hàng đầu cho công tác quản lý có hiệu quả công tác an toàn vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường ở cơ sở sản xuất. – Xây dựng hệ thống các chỉ tiêu đánh giá thực trạng an toàn tại cơ sở sản xuất. Như đã nêu ở trên thì công tác bảo hộ lao động đa ngành và liên quan tới nhiều lĩnh vực vì vậy các giải pháp đưa ra cũng thể hiện ở nhiều mặt như kinh tế, xã hội, chính trị… Nhưng trong điều kiện hiện nay tác giả thấy các giải pháp nêu trên là hiệu quả nhất, giải pháp này vừa khắc phục được những mặt bức xúc của công tác bảo hộ lao động, vừa tốn ít kinh phí lại có giá trị thực tiễn cao.
Vì lý do trên tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu của luận văn này là:” NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở CƠ SỞ”. Mục tiêu nghiên cứu. - Nâng cao ý thức về bảo hộ lao động của người sử dụng lao động, người lao động và cán bộ chuyên trách bảo hộ động. - Đề xuất một số giải pháp cơ bản để cung cấp kiến thức cho người lao động, người sử dụng lao động và cán bộ chuyên trách về bảo hộ lao động.
- Phân tích và xây dựng nội dung các chỉ tiêu đánh giá được thực trạng an toàn vệ sinh lao động ở cơ sở sản xuất. Phương pháp nghiên cứu: - Hồi cứu, nghiên cứu các tài liệu liên quan. - Phân tích so sánh. - Khảo sát thực tế, đối chứng.
Nội dung nghiên cứu: - Hệ thống các văn bản pháp quy, thông tư, văn bản hướng dẫn về bảo hộ lao động. - Nghiên cứu một số khái niệm liên quan. - Thu thập số liệu công tác bảo hộ lao động trong một số năm qua. - Phân tích số liệu.
- Phân tích một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng mất an toàn hiện nay. - Nghiên c ứu một số giải pháp trong công tác đảm bảo an toàn vệ sinh lao động. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN.
Công tác bảo hộ lao động là một c ông tác đa ngành và có tính ổng t thể thể hiện trên nhiều khía cạnh nên có nhiều khái niệm liên quan như: Bệnh nghề nghiệp, Kỹ thuật an toàn, Kỹ thuật vệ sinh, Khoa học vệ sinh lao động, Các yếu tố độc hại, vùng nguy hiểm. Nhưng trong khuôn khổ đề tài này tác giả chỉ nêu lên một số khái niệm liên quan tới nội dung và mục tiêu nghiên cứu. Khái niệm về bảo hộ lao động: Bảo hộ lao động là hệ thống các biện pháp về pháp luật, kinh tế, xã hội, kỹ thuật, tổ chức và các biện pháp phòng ngừa khác để bảo vệ sức khỏe và khả năng lao động của người lao động trong quá trình lao động. Từ khái niệm trên đã chứng tỏ mức độ phức tạp và đa ngành của công tác bảo hộ lao động bao gồm các biện pháp: - Biện pháp pháp luật: bao gồm tất cảc các văn bản pháp quy buộc mọi người phải thực hiện.
- Biện pháp về kinh tế: là phải đầu tư cho công tác bảo hộ lao động từ việc xây dựng luật pháp, quản lý nhà nước, nghiên cứu khoa học bảo hộ lao động, nghiên cứu công nghệ… cho tới đầu tư ở cơ sở để đảm bảo an toàn vệ sinh lao động. - Biện pháp về xã hội: là giải quyết các vấn đề về con người trong lao động. Đào tạo người lao động là trách nhiệm của xã hội. - Biện pháp về kỹ thuật được hiểu là tiến bộ khoa học kỹ thuật giúp con người tăng năng suất lao động, đồng thời góp phần giải quyết vấn đề an toàn vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường.
- Biện pháp về tổ chức là phải tổ chức khoa học sản xuất sao cho vừa đảm bảo công việc có chất lượng nhưng phải đảm bảo an toàn vệ sinh lao động. An toàn vệ sinh lao động : An toàn vệ sinh lao động là quá trình lao động mà ở đó không xuất hiện các yếu tố nguy hiểm gây chấn thương trong lao động. Vệ sinh lao động là quá trình lao động không làm xuất hiện các yếu tố có hại tới tâm sinh lý ng ười lao động, tới sự phát triển bình thường của họ. Thực tế cho thấy rằng không vệ sinh lao động có nghĩa là không an toàn v ệ sinh lao động.