phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo; phần nội dung đƣợc trình bày trong ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn Chƣơng 2: Những biện pháp vận dụng hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn chƣơng ở THPT Chƣơng 3: Thiết kế giáo án thể nghiệm áp dụng biện pháp vận dụng hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn chƣơng ở THPT 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái quát về ưu thế và nhược điểm của những khuynh hướng tiếp cận tác phẩm văn chương trong quá trình phát triển văn học Việc phân tích, tiếp cận tác phẩm văn chƣơng trong nhà trƣờng các nƣớc nhiều thập kỷ qua đã chịu ảnh hƣởng mạnh mẽ và trực tiếp của sự biến đổi các khuynh hƣớng và phƣơng pháp nghiên cứu phê bình văn học. Có sự biến đổi này là do những tác động trong quan niệm khác nhau về tác phẩm văn học. Những khuynh hướng tiếp cận khác nhau * Khuynh hƣớng tiếp cận theo phƣơng pháp lịch sử xã hội Quan niệm về tác phẩm văn học hình thành dần dần, bắt đầu từ quan hệ chỉnh thể với bộ phận.
Thời cổ đại Hi Lạp, Aristote đã nhìn tác phẩm nghệ thuật dƣới góc độ triết học và đƣa ra khái niệm chỉnh thể hữu cơ. Đến thời triết học cổ điển Đức, Hegel trong công trình Mĩ học đã coi tác phẩm thơ (văn học) nói chung là chỉnh thể và bộ phận, đó là “sản phẩm của trí tƣởng tƣợng phóng túng tự do đƣợc biểu hiện dƣới hình thức một tổng thể hữu cơ khép kín, hữu hạn mà mỗi bộ phận của nó đều trọn vẹn”. Ông chia tác phẩm nghệ thuật làm 2 thành phần : bên ngoài và bên trong, hình thức và nội dung, cho thấy phƣơng diện biểu đạt của tác phẩm. Sau Hegel từ V.Chernyshevski cho đến các nhà lí luận văn học macxit nhƣ V.Lunacharski nói chung đều hiểu tác phẩm văn học dƣới góc độ thống nhất hình thức và nội dung.
Tuy nhiên, vì dựa vào cặp phạm trù triết học có tính phổ quát là “nội dung” và “hình thức”, mà nội dung quyết định hình thức nên ngƣời ta ƣu tiên đi tìm bản chất nội dung văn học, mở ra các quan niệm xã hội học, văn hoá học của văn học, do đó ít quan tâm đến thực chất đặc trƣng nghệ thuật và thẩm mỹ của tác phẩm văn học. Sau quan niệm cổ điển là quan điểm thực chứng. Đại diện của trƣờng phái này là H.Taine cho rằng nghiên cứu văn học chỉ cần 3 yếu tố “chủng tộc” 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “hoàn cảnh” “thời đại” là đủ. Theo ông bản thân tác phẩm văn học hầu nhƣ không có giá trị độc lập tự thân nào.
Tiếp theo phái thực chứng, các nhà phê bình lãng mạn chủ nghĩa lại xem tác phẩm là sự biểu hiện của tình cảm, cảm xúc, cá tính nhà văn nên đã tập trung chú ý vào cá nhân nhà văn. Nhƣ vậy, trƣớc thế kỷ XX, khuynh hƣớng tiếp cận tác phẩm theo phƣơng pháp lịch sử xã hội luôn đƣợc xem trọng và đề cao. Đến thế kỷ XX, những quan niệm mới về tác phẩm văn học dần đƣợc hình thành.12-17] * Khuynh hƣớng tiếp cận tác phẩm theo hình thức, cấu trúc văn bản Chủ nghĩa hình thức Nga là trƣờng phái lý luận văn học đầu tiên nghiên cứu văn học nhƣ 1 giá trị sáng tạo ngôn ngữ độc lập. Họ phản đối phƣơng pháp nhị phân tác phẩm văn học thành nội dung và hình thức.
Họ đề nghị xem tác phẩm nhƣ là hiện tƣợng đời sống, là kinh nghiệm sống do nhà văn lựa chọn, nắm bắt, còn hình thức là sự gia công, cải tạo chất liệu bằng thủ pháp nghệ thuật. Do đó, để hiểu tác phẩm, không cần bàn về chất liệu đời sống mà chỉ cần phân tích thủ pháp nghệ thuật để hiểu nội dung là đủ. Đây là quan niệm có phần thiên lệch, giản đơn, rút gọn nghệ thuật vào thƣ pháp, quá đề cao tầm quan trọng của hình thức, khẳng định tính quyết định của hình thức, đi ngƣợc lại quan niệm truyền thống. Trƣờng phái “phê bình mới” của Anh, Mĩ cũng cho rằng việc tách bạch cơ giới nội dung với hình thức là điều phi lí.
Họ coi nội dung tác phẩm là cấu trúc, coi biểu hiện ngôn từ là cơ chất, cơ chất mới là nơi biểu hiện chất văn. Chủ nghĩa cấu trúc đi sâu hơn một bƣớc, đem “văn bản” thay cho “tác phẩm”, chủ trƣơng không nghiên cứu tác phẩm văn học cụ thể, mà chỉ nghiên cứu cấu trúc trừu tƣợng của văn học, tức là chỉ tìm những nguyên tắc chìm, có tác dụng chi phối làm cho tác phẩm ngôn từ trở thành tác phẩm có “chất văn học”. Chủ nghĩa cấu trúc xem văn học nhƣ một ngôn ngữ. Vận dụng sự phân biệt “ngôn ngữ” và “lời nói” là do nhà ngôn ngữ học F.De Saurssure đƣa ra.
Nhà 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cấu trúc chủ nghĩa đã phân biệt tác phẩm cụ thể ( lời nói ) với cấu trúc ( ngôn ngữ ) và chỉ nghiên cứu cấu trúc mà thôi. Cấu trúc là một cấu tạo trừu tƣợng, gồm quan hệ của các yếu tố trong văn bản, mà tác phẩm cụ thể chỉ là các biểu hiện khác nhau của một cấu trúc đó. Quan niệm về cấu trúc văn học của các nhà cấu trúc chủ nghĩa rất đa dạng và phức tạp. Nhìn chung cấu trúc tác phẩm chƣa phải là tác phẩm vì tác phẩm là một “cấu tạo siêu ngôn ngữ”, nó là phát ngôn đặc thù gắn với hoạt động của nhà văn và bạn đọc.
Do khép kín trong ngôn ngữ, quan niệm cấu trúc chẳng những xem nhẹ vai trò sáng tạo của tác giả mà cũng không thấy vai trò đồng sáng tạo của ngƣời đọc. Tuy nhiên chủ nghĩa cấu trúc đã sáng tạo một bộ máy công cụ rất có giá trị để đi sâu phân tích tác phẩm văn học.18-21] * Khuynh hƣớng tiếp cận tác phẩm theo phƣơng pháp hƣớng vào đáp ứng của ngƣời đọc Lí luận tiếp nhận văn học chú trọng phân biệt “văn bản” với “tác phẩm” và làm thay đổi căn bản quan niệm về tác phẩm. Văn bản là một tổ chức ký hiệu đƣợc sáng tạo ra cho ngƣời đọc, tồn tại trƣớc khi có hoạt động đọc của ngƣời đọc. Văn bản là một chuỗi ký hiệu đƣợc in trên giấy, là một cấu trúc có tính lƣợc đồ, nhiều tầng bậc, chƣa xác định.
Nó không tự sản sinh ý nghĩa nếu không đƣợc đọc thì nó cũng chẳng khác gì các từ trong từ điển. Tác phẩm là sản phẩm tiếp nhận văn bản, tồn tại trong ý thức ngƣời đọc. Tất nhiên tác phẩm không đồng nhất với bất cứ sự cụ thể hoá văn bản cá biệt của ngƣời đọc cụ thể nào. Theo lý lụân tiếp nhận thì tác phẩm do hai yếu tố tạo thành: văn bản (trong chất liệu) và khách thể thẩm mỹ (trong tâm trí).
Văn bản có thể tồn tại qua các thời đại, còn tác phẩm do ngƣời đọc cụ thể hoá, đồng sáng tạo nên luôn mang tính chất lịch sử, mỗi thời một khác, tuỳ theo cách tiếp nhận của xã hội, lịch sử thời đó. Quan niệm hiện tƣợng học cho rằng, mọi khách thể đều do vô vàn nhân tố xác định mà hoạt động nhận thức không bao giờ có thể bao quát hết vì thế 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khách thể trong văn học bao giờ cũng có những khoảng trống, những điểm chƣa xác định. Quan niệm này có cơ sở trong lí thuyết nhận thức luận phát sinh. Văn bản luôn có những khoảng trống, khoảng trắng chỗ đứt đoạn để cho ngƣời đọc đồng sáng tạo.
Tuy nhiên, không nên hiểu tính lƣợc đồ này chỉ là sơ đồ trừu tƣợng, không cụ thể, vì văn bản văn học với chữ nghĩa, hình tƣợng bao giờ cũng sinh động giàu chi tiết và sức gợi. Vấn đề là văn bản thƣờng chỉ cung cấp cái thông báo, mà thông báo có khoảng trống nên ý nghĩa không xác định. Sự cụ thể hoá văn bản của ngƣời đọc cũng có quy luật của nó, không phải mọi sự cụ thể hóa đều có giá trị thẩm mỹ nhƣ nhau. Quan niệm hậu cấu trúc cho rằng văn bản có tính liên văn bản, nghĩa là mọi văn bản đều giống nhƣ loại đồ khảm các hành văn khác nhau, văn bản nào cũng hấp thu và chuyển hóa các văn bản khác (J.
Tất nhiên liên văn bản không có nghĩa là sao chép lẫn nhau, mà nhƣ R.Barthes nói, mọi văn bản đều là liên văn bản với nghĩa là bao hàm tiền văn bản, văn bản văn hoá, văn bản nhìn thấy và văn bản không nhìn thấy, sự dẫn văn vô thức và tự động. Vì thế liên văn bản nói lên tính xã hội, tính chỉnh thể, tính sản sinh của văn bản. Nó là một sự truyền bá. Do sự tồn tại giữa các văn bản, có vô vàn quan hệ chằng chịt với các văn bản khác, một văn bản trong quá trình hình thành và tiếp nhận đều mang tính liên văn bản.
Cùng với lí thuyết tiếp nhận, lý luận phản ứng của ngƣời đọc xem văn bản chỉ là cái khung trống rỗng, chỉ khi ngƣời đọc xuất phát từ tình huống của mình để tìm ý nghĩa “rót” nội dung cụ thể vào thì mới thành tác phẩm. Ngƣời đọc trở thành kẻ sáng tạo ý nghĩa tác phẩm, tác giả hầu nhƣ chẳng có vai trò gì. Quan niệm này có phần cực đoan, bởi vì hoạt động đọc không thể thoát li, bất chấp văn bản, mà văn bản là sự thể hiện của tác giả. Những kết luận chung về các khuynh hướng Nhƣ vậy, tuỳ theo những quan niệm khác nhau về phƣơng thức tồn tại của tác phẩm văn học trong các thời kỳ lịch sử để tạo ra sự đa dạng, khác biệt 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong cách thức tiếp cận tác phẩm văn chƣơng ở các khuynh hƣớng khác nhau.
Ở Việt Nam, đã có những cách tiếp cận tìm hiểu văn chƣơng đi theo những chiều hƣớng đúng sai khác nhau tuỳ theo sự am hiểu tinh thông phƣơng pháp luận nghiên cứu văn học, tuỳ theo bản lĩnh khoa học của mỗi ngƣời. Có khuynh hƣớng coi trọng hoàn cảnh phát sinh hay tuyệt đối hoá yếu tố ngoài tác phẩm. Có khuynh hƣớng khám phá cấu trúc văn bản một cách khoa học. Lại có cách tiếp cận biệt lập văn bản khỏi hoàn cảnh phát sinh, hƣớng vào bạn đọc không khép kín trong văn bản hay cƣờng điệu hoá sở thích cảm thụ chủ quan của ngƣời đọc đi đến thoát ly văn bản.
Từ lâu, ngƣời ta đã phê phán khuynh hƣớng tiếp cận “phi văn bản” “ngoài văn bản”, “trên văn bản” hoặc khuynh hƣớng phân tích không địa chỉ.