Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Giá trị của truyện dân gian nước ngoài với học sinh Tiểu học" do sinh viên Nguyễn Minh Thu thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Vũ Thị Thương tại Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Thủ Đô Hà Nội (hoàn thành vào tháng 4 năm 2018). Nghiên cứu tiếp cận mảng truyện dân gian nước ngoài trong chương trình môn Tiếng Việt bậc Tiểu học dưới góc độ lý luận giáo dục học và phương pháp dạy học phân môn Tập đọc, Kể chuyện.
Về mặt thực tiễn, văn học dân gian nói chung và truyện dân gian nói riêng là bộ phận cấu thành nền tảng của văn học thiếu nhi, đóng vai trò như một phương tiện giáo dục nhận thức, thẩm mỹ và đạo đức. Trong chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học, bên cạnh các tác phẩm truyện dân gian Việt Nam, các nhà biên soạn đã đưa vào nhiều tác phẩm truyện dân gian nước ngoài dưới hình thức xen kẽ theo từng chủ điểm. Nhóm tác phẩm này mở rộng không gian văn hóa, giúp học sinh tiếp xúc với phong tục, tập quán, lối sống và tâm hồn của nhiều dân tộc trên thế giới. Tuy nhiên, thực tế giảng dạy tại các trường tiểu học còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế: phương pháp dạy học chưa thực sự lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên gặp rào cản về ngoại ngữ và tư liệu gốc, sự phân bố tác phẩm giữa các khối lớp chưa hợp lý.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về truyện dân gian nước ngoài và khảo sát thực trạng giảng dạy thể loại này trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học.
- Phân tích, làm rõ các giá trị nội dung, giá trị giáo dục đạo đức và nhân cách mà truyện dân gian nước ngoài mang lại cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 5.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm và đề xuất các biện pháp, phương pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả tiếp nhận tác phẩm truyện dân gian nước ngoài ở nhà trường tiểu học.
- Xây dựng nguồn tài liệu tham khảo phục vụ bản thân, giáo viên tiểu học, đồng nghiệp và sinh viên ngành sư phạm.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Giá trị của các tác phẩm truyện dân gian nước ngoài đối với học sinh Tiểu học.
- Phạm vi nghiên cứu: Các tác phẩm truyện dân gian nước ngoài (bao gồm truyện thần thoại, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười) hiện đang được đưa vào giảng dạy trong chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt từ khối lớp 1 đến khối lớp 5.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận kế thừa và đối chiếu các công trình nghiên cứu, giáo trình và luận văn chuyên ngành về văn học thiếu nhi và phương pháp giảng dạy tiếng Việt ở bậc tiểu học, bao gồm:
- Giáo trình Văn học (Tài liệu đào tạo giáo viên Tiểu học trình độ Cao đẳng và Đại học Sư phạm) do Cao Đức Tiến chủ biên: Cung cấp khung lý thuyết về đặc trưng các thể loại truyện cổ dân gian (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười) và định hướng phân tích tác phẩm nước ngoài trong nhà trường.
- Bài viết "Viết cho thiếu nhi – Tính giáo dục phải đặt lên hàng đầu" của tác giả Vũ Thị Huyền (trên trang của nhà văn Lê Nhật Ký): Khẳng định chức năng giáo dưỡng nhân cách của văn chương thiếu nhi.
- Chuyên khảo Vẻ đẹp của các tác phẩm văn học nước ngoài trong chương trình Tiếng Việt 1, 2, 3 của ThS. Phạm Thị Phương Liên (Trường Đại học Thủ Đô Hà Nội): Định hướng cảm thụ nét đẹp ngôn từ và hình tượng nhân vật nhân hóa.
- Luận văn tốt nghiệp Tiếp cận và giảng dạy các tác phẩm văn học nước ngoài ở trường Tiểu học của Đỗ Việt Nga (Trường ĐHSP Hà Nội 2): Khảo sát thực trạng và nguyên tắc tiếp cận văn bản dịch.
- Khóa luận của Nguyễn Thị Oanh (Đặc trưng một số thể loại truyện dân gian trong chương trình tiểu học, ĐH Quảng Bình, 2015) và Bùi Hải Yến (Giá trị giáo dục của văn học nước ngoài đối với học sinh Tiểu học, ĐH Thủ Đô Hà Nội, 2014): Cung cấp tư liệu phân loại thể loại và kết quả thực nghiệm ban đầu.
Về mặt lý luận thể loại, tác giả đi sâu vào hai nền văn học dân gian tiêu biểu:
- Truyện dân gian Nga: Được phân loại thành 3 nhóm lớn:
- Truyện về các loài vật (khoảng 50 cốt truyện, biểu trưng hóa tính cách: cáo tinh ranh, sói tham lam, hổ hung bạo, thỏ khôn ngoan, đề cao chiến thắng của trí tuệ qua môtíp gặp gỡ).
- Truyện cổ tích thần kì (môtíp đội lốt vật như Nàng công chúa ếch, tìm vợ/chồng mất tích, môtíp xử kiện; tuyến nhân vật phân định rõ giữa chính diện như hoàng tử Ivan, nàng Vacvara và phản diện như phù thủy Baba Iaga, lão Cô-sây bất tử).
- Truyện kể sinh hoạt gia đình và xã hội (ngợi ca người lao động, phê phán thói hư tật xấu, giàu yếu tố hài hước, phiêu lưu).
- Truyện dân gian Ả Rập: Đại diện là bộ sưu tập Nghìn lẻ một đêm (Hazār Afsān), hình thành qua nhiều thế kỷ tại Trung Đông và Nam Á, hoàn thiện qua lời kể của các nghệ nhân Ai Cập thế kỷ 12-13, sử dụng kết cấu truyện lồng truyện xoay quanh nàng Sheherazade và vua Shahriyar.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai trong đề tài:
- Phương pháp thu thập và thống kê: Tập hợp toàn bộ ngữ liệu truyện dân gian nước ngoài trong SGK Tiếng Việt lớp 1 đến lớp 5.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Mổ xẻ nội dung, cấu trúc nhân vật và thông điệp đạo đức của từng văn bản.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đối chiếu đặc điểm tiếp nhận văn học của các độ tuổi học sinh tiểu học (lớp 1-2 so với lớp 4-5).
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức tiết dạy thực tế tại trường tiểu học để kiểm chứng khả năng tiếp thu giá trị giáo dục của học sinh qua hệ thống câu hỏi gợi mở.
Nguồn dữ liệu nghiên cứu là hệ thống văn bản truyện dân gian nước ngoài trong sách giáo khoa Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5 hiện hành tại thời điểm nghiên cứu (2018).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về giá trị của đề tài
Chương này làm rõ khái niệm, nguồn gốc, vị trí của truyện dân gian nước ngoài trong trường tiểu học, đồng thời chỉ ra thực trạng thuận lợi và khó khăn khi triển khai dạy học mảng kiến thức này.
Về thuận lợi:
- Các tác phẩm có dung lượng ngắn, tình tiết li kì, giàu hình ảnh tưởng tượng, nhân hóa ngộ nghĩnh, kết thúc có hậu, phù hợp với tâm lý ưa ước mơ và trực quan sinh động của lứa tuổi 6–10.
- Nội dung truyện truyền tải trực tiếp các bài học nhân văn, giúp học sinh mở rộng hiểu biết về địa lý, phong tục và văn hóa thế giới mà không cần trực tiếp trải nghiệm thực tế.
Về khó khăn và bất cập trong thực tiễn:
- Trình độ ngoại ngữ của giáo viên: Giáo viên tiểu học chỉ được đào tạo tiếng Anh cơ bản, không có khả năng tiếp cận nguyên tác bằng tiếng nước ngoài, trong khi nguồn tư liệu dịch thuật và tài liệu tham khảo chuyên sâu còn thiếu thốn.
- Phương pháp giảng dạy: Nhiều giáo viên áp dụng phương pháp truyền thụ cũ của văn học Việt Nam, chưa làm nổi bật đặc trưng thể loại của truyện nước ngoài, dạy học lấy giáo viên làm trung tâm thay vì phát huy tính tích cực của học sinh.
- Bất cập trong phân bố chương trình: Truyện dân gian nước ngoài tập trung dày đặc nhất ở lớp 1 và lớp 2 – giai đoạn học sinh mới học đọc, học viết, kỹ năng cảm thụ còn sơ khai. Ngược lại, ở lớp 4 và lớp 5, khi tư duy và nhận thức của học sinh đã phát triển đầy đủ để cảm nhận văn bản phức tạp, số lượng tác phẩm lại rất ít (lớp 5 chỉ có duy nhất 01 tác phẩm là Thuần phục sư tử).
- Vấn đề phiên âm: Hầu hết tên riêng nhân vật và địa danh bị phiên âm sang tiếng Việt, giúp học sinh dễ đọc nhưng gây cản trở cho việc tra cứu nguyên bản.
- Đặc điểm tiếp nhận của học sinh: Trẻ nhỏ dễ nhầm lẫn giữa không gian thần tiên trong truyện với hiện thực đời sống, chưa có khả năng tiếp nhận các kết thúc mở hoặc nhân vật có diễn biến tâm lý phức tạp.
Khóa luận giới thiệu chi tiết ngữ liệu truyện dân gian Nga (Ông già Tuyết, Nhổ củ cải) và truyện dân gian Ả Rập (Nghìn lẻ một đêm với các truyện tiêu biểu: Aladdin và cây đèn thần, Cuộc hành trình của thủy thủ Sinbad, Ali Baba và 40 tên cướp, Người câu cá với vị thần).
Chương 2: Giá trị của các tác phẩm truyện dân gian nước ngoài ở Tiểu học
Chương 2 là nội dung trọng tâm của khóa luận, phân tích hệ thống giá trị giáo dục của truyện dân gian nước ngoài theo 4 nhóm quan hệ xã hội cơ bản và đi sâu vào các tác phẩm cụ thể:
| Nhóm mối quan hệ |
Tác phẩm tiêu biểu trong SGK Tiếng Việt |
Giá trị giáo dục và chuẩn mực đạo đức cốt lõi |
| Quan hệ trong gia đình |
- Kho báu (Ngụ ngôn Ê-dốp, TV2) - Bông hoa cúc trắng (Cổ tích Nhật Bản, TV1) - Cô bé trùm khăn đỏ (Cổ tích Pê-rô, TV1) - Thuần phục sư tử (Dân gian Ả Rập, TV5) |
- Tình yêu thương, trách nhiệm của cha mẹ; giá trị của lao động chân chính. - Lòng hiếu thảo, đức hy sinh vượt qua khó khăn để chữa bệnh cho mẹ. - Tinh thần vâng lời người lớn, cảnh giác trước cạm bẫy. - Sự kiên nhẫn, dịu dàng, thông minh trong việc giữ gìn hạnh phúc gia đình. |
| Quan hệ trong nhà trường |
- Rùa và Thỏ (Ngụ ngôn La-phông-ten, TV1) - Cô chủ không biết quý trọng tình bạn (V. Oseeva, TV1) |
- Phê phán tính tự cao tự đại, coi thường người khác; ca ngợi sự kiên trì, nỗ lực bền bỉ. - Giáo dục lòng thủy chung, biết trân trọng bạn bè, tránh thay đổi tùy tiện dẫn đến cô độc. |
| Quan hệ trong cộng đồng xã hội |
- Sư tử và chuột nhắt (L. Tolstoy, TV1) - Hai tiếng kỳ lạ (TV1) |
- Tinh thần tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau; người nhỏ bé vẫn có thể giúp người to lớn; giữ trọn lời hứa. - Chuẩn mực ứng xử lễ phép, thái độ tôn trọng người lớn tuổi trong giao tiếp hàng ngày. |
| Quan hệ với môi trường & công việc |
- Đất quý, đất yêu (Dân gian Ê-ti-ô-pi-a) - Nhóm truyện về sáng tạo, lao động |
- Tình yêu quê hương xứ sở, sự trân trọng tài nguyên và môi trường sống. - Tôn vinh sức lao động sáng tạo, sự cần cù và trí thông minh của nhân dân. |
Chương này cũng phân tích chuyên sâu 4 tác phẩm tiêu biểu nhằm làm nổi bật phương thức giáo dục lòng nhân ái:
- Bông hoa cúc trắng: Hình ảnh cô bé xé nhỏ cánh hoa để mẹ sống thêm nhiều ngày biểu trưng cho lòng hiếu thảo chiến thắng bệnh tật và hoàn cảnh.
- Sư tử và chuột nhắt: Sự đối lập giữa chúa sơn lâm và chú chuột nhỏ khẳng định chân lý về lòng biết ơn và sự bình đẳng trong tương trợ xã hội.
- Kho báu: Lời dặn dò mang tính ẩn dụ của người cha hướng con cái nhận thức lao động cày sâu cuốc bẫm chính là nguồn gốc tạo ra của cải bền vững.
- Đất quý, đất yêu: Hành động phong tục cạo sạch từng hạt cát trên giày khách trước khi rời đất nước làm nổi bật ý thức thiêng liêng về tấc đất quê hương.
Chương 3: Bước đầu suy nghĩ về cách dạy các tác phẩm truyện dân gian cho học sinh trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học
Chương 3 trình bày việc ứng dụng lý luận vào thực nghiệm sư phạm và các đề xuất phương pháp:
- Thực nghiệm sư phạm: Tác giả tiến hành thực nghiệm giảng dạy các bài đọc truyện dân gian nước ngoài tại trường tiểu học, tập trung vào việc thiết kế hệ thống câu hỏi gợi mở, dẫn dắt học sinh tự khai thác nội dung, tìm ra thông điệp bài học thay vì áp đặt giải thích một chiều từ giáo viên. Kết quả thực nghiệm cho thấy học sinh nắm bắt tốt ý nghĩa giáo dục, biết liên hệ hành vi cá nhân trong đời sống thường ngày.
- Hệ thống biện pháp đề xuất:
- Chuyển đổi từ mô hình dạy học truyền thụ áp đặt sang mô hình dạy học tích cực, lấy học sinh làm trung tâm.
- Vận dụng linh hoạt các phương pháp đặc thù: kể chuyện diễn cảm, đóng vai theo tình huống, thảo luận nhóm về hành động của nhân vật, vẽ tranh minh họa hoặc sáng tác đoạn kết tiếp diễn.
- Giáo viên cần chủ động tra cứu bối cảnh văn hóa của tác phẩm để giải thích nguồn gốc truyện, giúp học sinh phân biệt ranh giới giữa thế giới hư cấu thần kì và hiện thực đời sống, tránh tâm lý ỷ lại vào yếu tố phép màu.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể:
- Hệ thống hóa diện mạo truyện dân gian nước ngoài trong SGK Tiếng Việt: Khảo sát và phân loại các tác phẩm thần thoại, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười nước ngoài dạy từ lớp 1 đến lớp 5, chỉ ra tính đa dạng về xuất xứ (Nga, Pháp, Hy Lạp, Nhật Bản, Ả Rập, Ê-ti-ô-pi-a...).
- Khái quát hóa 4 trục giá trị giáo dục đạo đức: Chứng minh các tác phẩm truyện nước ngoài tuy ngắn gọn nhưng chứa đựng đầy đủ hệ giá trị về quan hệ gia đình (hiếu thảo, trách nhiệm), nhà trường (khiêm tốn, tình bạn), cộng đồng (tương trợ, giữ lời hứa, lễ phép) và môi trường - lao động (yêu quê hương, cần cù).
- Phát hiện những bất cập trong phân bổ ngữ liệu: Nêu rõ số liệu phân bố không đồng đều giữa các cấp lớp (tập trung quá nhiều ở lớp 1, 2 nhưng rất ít ở lớp 4, 5 – lớp 5 chỉ có duy nhất 1 truyện là Thuần phục sư tử), gây khó khăn cho việc cảm thụ văn học theo tiến trình phát triển nhận thức của học sinh.
- Đóng góp phương pháp dạy học: Đề xuất quy trình dạy học lấy học sinh làm trung tâm qua hệ thống câu hỏi gợi mở và hình thức hoạt động đa dạng (kể chuyện, đóng vai, liên hệ thực tế), được kiểm chứng qua thực nghiệm sư phạm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài (dựa trên nội dung tác giả tự nhận định và phạm vi nghiên cứu):
- Nguồn tư liệu đối chiếu nguyên tác bằng tiếng nước ngoài còn hạn chế do rào cản ngoại ngữ; đa phần tác phẩm phụ thuộc vào bản dịch tiếng Việt và tên riêng đã bị Việt hóa.
- Khóa luận chưa đi sâu khảo sát định lượng trên diện rộng về mức độ ghi nhớ của học sinh đối với toàn bộ các truyện trong SGK mà chỉ tập trung vào phân tích chất lượng văn bản và thực nghiệm trên một số tiết dạy cụ thể.
Hướng nghiên cứu mở rộng:
- Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa truyện dân gian Việt Nam và truyện dân gian nước ngoài có cùng môtíp trong chương trình tiểu học.
- Đề xuất giải pháp tái cơ cấu phân bổ ngữ liệu truyện dân gian nước ngoài cân đối hơn giữa các khối lớp khi xây dựng chương trình và sách giáo khoa mới.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng sau:
- Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, Sư phạm Ngữ văn: Sử dụng làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu học phần Văn học thiếu nhi và Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học.
- Giáo viên tiểu học: Tham khảo cách thức phân tích giá trị tư tưởng của các văn bản tập đọc/kể chuyện nước ngoài (như Bông hoa cúc trắng, Kho báu, Rùa và Thỏ, Thuần phục sư tử) và ứng dụng phương pháp gợi mở trong giờ dạy.
- Các phần đáng chú ý trong tài liệu: Mục phân tích đặc trưng truyện dân gian Nga, Ả Rập (Chương 1) và sơ đồ hóa các chuẩn mực đạo đức theo từng nhóm quan hệ xã hội (Chương 2).
Câu hỏi thường gặp
1. Trong chương trình Tiếng Việt lớp 5, có bao nhiêu tác phẩm truyện dân gian nước ngoài được đưa vào giảng dạy?
Theo thống kê trong khóa luận, chương trình Tiếng Việt lớp 5 chỉ có duy nhất 01 tác phẩm truyện dân gian nước ngoài là bài "Thuần phục sư tử" (Truyện dân gian Ả Rập).
2. Tác phẩm "Kho báu" (truyện ngụ ngôn Ê-dốp, Tiếng Việt 2) giáo dục bài học đạo đức nào cho học sinh?
Tác phẩm ca ngợi tình yêu thương, sự lo lắng của cha mẹ đối với tương lai của con cái, đồng thời giáo dục học sinh bài học về giá trị của sự chăm chỉ lao động: cày sâu cuốc bẫm trên đồng ruộng chính là "kho báu" chân thực mang lại cuộc sống ấm no, ấm no bền vững.
3. Khóa luận chỉ ra những rào cản chính nào đối với giáo viên khi giảng dạy truyện dân gian nước ngoài?
Các rào cản chính gồm: trình độ ngoại ngữ của giáo viên còn hạn chế nên khó tiếp cận nguyên tác bằng tiếng nước ngoài; tài liệu tham khảo dịch thuật nghèo nàn; tên tác giả và địa danh bị phiên âm tiếng Việt gây khó khăn khi tra cứu gốc; thói quen giảng dạy theo lối mòn truyền thụ một chiều mà chưa tổ chức hoạt động lấy học sinh làm trung tâm.
4. Tập truyện "Nghìn lẻ một đêm" của Ả Rập có nguồn gốc cốt lõi từ tác phẩm nào và được hoàn thiện ra sao?
Văn bản khóa luận nêu rõ: Nhiều truyện trong Nghìn lẻ một đêm bắt nguồn từ thời đại Khalifah và tác phẩm văn chương Ba Tư Hazār Afsān (Một ngàn truyện, chịu ảnh hưởng từ Ấn Độ). Tác phẩm được hoàn thiện qua quá trình truyền khẩu của những người kể chuyện rong Ai Cập thế kỷ 12 và 13, giúp ngôn ngữ gắn liền với đời sống bình dân.
5. Vì sao việc phân bố truyện dân gian nước ngoài tập trung nhiều ở lớp 1 và lớp 2 bị đánh giá là chưa hợp lý?
Học sinh lớp 1 và lớp 2 mới bắt đầu học đọc, viết, vốn sống và tư duy còn sơ khai nên chỉ dừng lại ở mức đọc câu chữ mà chưa cảm nhận hết chiều sâu tư tưởng. Trong khi đó, học sinh lớp 4 và lớp 5 có năng lực nhận thức và cảm thụ phát triển tốt thì số lượng truyện nước ngoài lại quá ít.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Minh Thu đã làm rõ vai trò, đặc điểm và hệ thống giá trị giáo dục toàn diện của truyện dân gian nước ngoài trong chương trình môn Tiếng Việt bậc Tiểu học. Công trình phân tích sâu sắc các tác phẩm tiêu biểu theo 4 trục quan hệ đạo đức xã hội, đồng thời chỉ ra thực trạng bất cập trong phân bố ngữ liệu sách giáo khoa và rào cản phương pháp dạy học. Qua thực nghiệm sư phạm, đề tài khẳng định tính khả thi của việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm nhằm bồi dưỡng nhân cách, lòng nhân ái và mở rộng tầm nhìn văn hóa cho học sinh tiểu học.