Chương 1: Thờ cúng Tổ tiên và vai trò của Thờ cúng Tổ tiên trong đời sống tinh thần của người Việt Nam. Chương 2: Phát huy những giá trị tích cực của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên ở một số địa phương Hà Nội hiện nay - Thực trạng và vấn đề đặt ra. Chương 3: Phương hướng, giải pháp, kiến nghị cơ bản nhằm phát huy những giá trị tích cực của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên ở một số địa phương Hà Nội hiện nay. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 THỜ CÖNG TỔ TIÊN VÀ VAI TRÕ CỦA THỜ CÖNG TỔ TIÊN TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƢỜI VIỆT NAM 1.
Khái niệm tín ngƣỡng, tôn giáo và tín ngƣỡng Thờ cúng Tổ tiên 1. Khái niệm tôn giáo, tín ngưỡng và mê tín dị đoan * Tôn giáo Khái niệm tôn giáo là một vấn đề được giới nghiên cứu về tôn giáo bàn cãi rất nhiều. Trong lịch sử đã từng tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về tôn giáo: Các nhà thần học đều cho rằng: tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con người. Một số nhà tâm lý học lại cho rằng, tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chưa từng cô đơn thì anh chưa bao giờ có tôn giáo.
Theo Desplend thì: “Tôn giáo là những gì con người muốn thu lượm thêm vì nó là một phần văn hoá do con người sáng tạo nên”, và “tôn giáo hiện nay được coi như một lĩnh vực cần thiết cho những con người muốn đối thoại và thực hành với cái thiêng và thần thánh” [83, tr. Mác lại định nghĩa: Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần. Ăngghen trong tác phẩm "Chống Đuyrinh" lại cho rằng: Tôn giáo là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc con người những lực lượng bên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày [87, tr. Tóm lại, khi nói về tôn giáo dù theo nghĩa rộng hay hẹp, chúng ta cần phải chú ý: Bàn về tôn giáo, dù theo ý nghĩa hay cách biểu hiện nào thì luôn phải đề cập đến hai thế giới (thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của những vật thể hữu hình và vô hình).
Tôn giáo không chỉ là những bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và xã hội, mà còn do con người thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánh mất mình nên phải dựa vào thần thánh để an ủi, để hy vọng một cuộc sống tốt đẹp hơn. Như vậy, từ những quan điểm trên chúng ta có thể đi đến định nghĩa: Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lƣợng siêu nhiên, quyết định số phận con ngƣời. Con ngƣời phải phục tùng, tôn thờ [45, tr. * Tín ngƣỡng Tín ngưỡng là một hiện tượng lịch sử, thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội.
Trên thế giới có tới hàng ngàn loại hình tín ngưỡng khác nhau rất đa dạng, phong phú. Do cách tiếp cận, mục đích nghiên cứu khác nhau, nên các cách hiểu tín ngưỡng cũng rất khác nhau. Vì vậy, để đưa ra một khái niệm khoa học về tín ngưỡng thì phải xem xét một số quan điểm về tín ngưỡng của các nhà nghiên cứu. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm khách quan, với đại biểu như Platon, Hêghen… đã xuất phát từ thực thể tinh thần, “ý niệm”, “ý niệm tuyệt đối” để lý giải các hiện tượng tôn giáo, tín ngưỡng.
Họ xem tín ngưỡng, tôn giáo là sức mạnh thần bí thuộc tinh thần tồn tại vĩnh hằng, là nhân tố chủ yếu đem lại sinh khí cho con người. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm chủ quan: Cho rằng, tín ngưỡng là thuộc tính vốn có trong ý thức của con người, tồn tại không phụ thuộc vào hiện thực khách quan và theo họ con người có thể cảm nhận được, tin chứ không lý giải được. Còn các quan điểm thuần tuý xã hội học về tín ngưỡng với các nhà xã hội học tư sản như Spenser, Durkheim, M. từ giác độ xã hội học đã có những cái nhìn mới về tín ngưỡng, tôn giáo.
Emile Durkheim cho rằng, tín 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngưỡng là những trạng thái tư tưởng, nằm ở các biểu tượng và được biểu hiện thông qua các nghi lễ thờ cúng. Nhìn chung các quan điểm về tín ngưỡng nêu trên, do hạn chế về điều kiện lịch sử và lợi ích giai cấp nên còn thiếu cơ sở khoa học. Đối các nhà nhà triết học duy tâm, họ đã sai lầm vì họ đã lấy ý thức, tinh thần để lý giải một hiện tượng cũng thuộc về tinh thần là tín ngưỡng tôn giáo. Còn các nhà duy vật, đặc biệt là Phoi-ơ-bắc lại rơi vào lập trường duy tâm trong việc lý giải vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng.
Ông đã chỉ ra nguồn gốc nhận thức tín ngưỡng, tôn giáo nhưng chưa chỉ ra được nguồn gốc xã hội, chức năng “đền bù hư ảo” và những mặt tiêu cực của tôn giáo, tín ngưỡng. Do vậy, để có cách nhìn khách quan và khoa học hơn đối với hiện tượng tín ngưỡng đòi hỏi phải có phương pháp tiếp cận khoa học, đó là những phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác-Lênin.Mác, con người đã sáng tạo ra tín ngưỡng, tôn giáo chứ không phải chỉ sáng tạo ra biểu tượng của tín ngưỡng, tôn giáo như các nhà duy vật trước Mác đã thừa nhận. Về bản chất, tín ngưỡng là sản phẩm của con người sống trong những điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá cụ thể nào đó. Tín ngưỡng thuộc về đời sống tinh thần của xã hội, phản ánh tồn tại xã hội và chịu sự quy định của xã hội.
Chính con người đã thần thánh hoá, khoác cho thần thánh những sức mạnh siêu nhiên, tạo thành cái bản chất khác mình và trở thành chỗ dựa cho chính mình. Trong quá trình hoạt động của mình,C.Ănghen đã chỉ ra sản xuất vật chất là cơ sở của sự hình thành và phát triển của các hiện tượng mang tính chất lịch sử xã hội, trong đó có tín ngưỡng, tôn giáo.Ănghen sống trong xã hội phương Tây, tín ngưỡng thường được hiểu là tín ngưỡng tôn giáo, và cụ thể là tín ngưỡng Cơ Đốc giáo.Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu, C.Ănghen đã đề cập tới vấn đề tín ngưỡng tôn giáo ở nhiều khía cạnh khác nhau, trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể khác nhau, với các khái niệm tín ngưỡng, tín ngưỡng tôn giáo, tín ngưỡng Cơ Đốc giáo. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các ông cho rằng, về cơ bản, tín ngưỡng không có gì thần linh, hai cái đều là tôn giáo đang ngự trị con người. ở đây, tín ngưỡng với hàm nghĩa tôn giáo [62, tr.
Như vậy, với các nhà triết học duy tâm thì ý thức, tín ngưỡng tôn giáo là để giải thích lịch sử, coi tín ngưỡng tôn giáo là phạm trù vượt qua lịch sử, lấy sự thay đổi của tôn giáo, tín ngưỡng để phân định lịch sử nhân loại, còn với nhà sáng lập chủ nghĩa Mác thì lịch sử để giải thích tín ngưỡng và đi đến nhận định khách quan, khoa học: Tín ngưỡng cũng là một hiện tượng lịch sử, là sự phản ánh điều kiện kinh tế xã hội của thời đại, có quá trình hình thành, biến đổi và có ảnh hưởng nhất định đối với tiến trình lịch sử. Khi nghiên cứu về tín ngưỡng, các học giả Việt Nam cũng đã đưa ra một số quan điểm khác nhau như: Nguyễn Văn Đạm trong cuốn từ điển Tiếng Việt đã khẳng định: Tín ngưỡng, là “Sự tin tưởng vào sức mạnh của một đấng thiêng liêng và những giáo lý của một tôn giáo” [21, tr. Còn tác giả Đặng Nghiêm Vạn lại xem “Tín ngưỡng là một yếu tố chính của tôn giáo, quy định sức mạnh của tôn giáo đó với cộng đồng” [85]. Nguyễn Quốc Phẩm lại xem tín ngưỡng, theo nghĩa hẹp là niềm tin, sự ngưỡng mộ của con người và thường gắn với niềm tin tôn giáo.
Theo nghĩa rộng, tín ngưỡng là khái niệm có nội hàm ngoại diên rộng hơn tôn giáo thuộc ý thức xã hội, phản ánh niềm tin sự ngưỡng mộ của quần chúng nhân dân vào các lực lượng siêu nhiên ít nhiều mang màu sắc tôn giáo [56, tr. Với học giả, Nguyễn Chí Bền từ góc độ văn hoá, xem tín ngưỡng là một bộ phận cấu thành của văn hoá được thể hiện thông qua nghi lễ thờ cúng, là lòng ngưỡng mộ, thành kính với những thế lực có ảnh hưởng trong quan hệ với con người [5]. Còn với các nhà nghiên cứu như Toan Ánh, Phan Kế Bính, Tân Việt… lại tiếp cận tín ngưỡng từ giác độ văn hoá dân gian, xem tín ngưỡng là tín 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngưỡng dân gian với các lễ nghi thờ cúng thể hiện qua lễ hội, phong tục tập quán, truyền thống của dân tộc Việt Nam. Tín ngưỡng, theo cách hiểu thông thường là tín ngưỡng tôn giáo.
Thực ra về mặt nội dung và hình thức phản ánh thì tín ngưỡng và tôn giáo có sự tương đồng nhưng cũng có sự khác biệt. Sự tương đồng thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, tín ngưỡng và tôn giáo đều là sự thể hiện niềm tin, sự ngưỡng mộ của con người vào một thực thể siêu việt như Thượng đế, Thần, Phật, Tổ tiên… Niềm tin trong tín ngưỡng và tôn giáo là trạng thái tâm lý đặc biệt của chủ thể nhận thức. Niềm tin xuất hiện và tồn tại như thế nào thì còn phụ thuộc vào khả năng và trình độ nhận thức của con người (chủ thể). Do vậy, niềm tin vào đấng thiêng liêng là hạt nhân của tín ngưỡng và tôn giáo.
Thứ hai, tín ngưỡng và tôn giáo đều là sự phản ánh hư ảo của ý thức xã hội về tồn tại xã hội và chịu sự quy định của tồn tại xã hội đã sinh ra chúng. Tín ngưỡng và tôn giáo đều có nguồn gốc xã hội, nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc tâm lý trong quá trình hình thành và tồn tại; đều có chức năng đền bù hư ảo, xoa dịu nỗi đau hiện thực và hướng con người tới sự giải thoát về tinh thần. Bên cạnh những điểm tương đồng, giữa tín ngưỡng và tôn giáo cũng có những điểm khác nhau: Một là, tín ngưỡng xét về mặt lôgích hình thức là khái niệm có nội hàm hẹp hơn tôn giáo, bởi mọi tôn giáo đều là tín ngưỡng, nhưng không phải mọi hình thức tín ngưỡng là tôn giáo.