mở đầu triều đại nhà Hậu Lê. Trải qua mấy trăm năm phát triển cùng các triều vua Thái Tổ (1428 – 1433), Thái Tông (1434 – 1442), Nhân Tông (1443 – 1459), Thánh Tông (1406 – 1497)…đất nước Đại Việt dần dần được phục hồi và phát triển lên một đỉnh cao mới về tất cả các mặt kinh tế - chính trị - xã hội. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Tổ chức chính quyền Sau khi lên ngôi Hoàng Đế, Lê Lợi đã xây dựng vương triều của mình dựa trên sự mô phỏng mô hình chế độ quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền của Trung Quốc với tôn chỉ: tất cả quyền bính nằm trong tay hoàng đế - “Thiên tử thay trời trị dân” cùng một hệ thống chính quyền đứng đầu là vua, rồi đến các chức Tả, Hữu tướng quốc, Tam thái, Tam thiếu, Tam tư, Bộc xạ…tiếp đến là hai ban Văn và Võ. Sau đó, ông chia nước làm 5 đạo: Đông, Tây, Nam, Bắc và Hải Tây.
Đứng đầu mỗi đạo có chức hành khiển, bên cạnh có tổng quản chỉ huy các vệ quân trong đạo. Dưới đạo là trấn, lộ, huyện, châu. Ở trấn có trấn phủ sứ, tổng quản; ở phủ có tri phủ, đồng tri phủ; ở huyện có chuyện vận sứ; ở châu có phòng ngự sứ, chiêu thảo sứ; miền núi có tri châu và đại tri châu. Đơn vị hành chính cơ sở là xã, gồm 3 loại: xã lớn; xã vừa; xã nhỏ, đứng đầu là các xã quan.
Dưới cấp xã là thôn. Đến thời Lê Thánh Tông, bộ máy NN từ Trung ương đến địa phương đã có sự thay đổi. Năm 1466, Lê Thánh Tông chia nước thành 12 đạo. Năm 1471, Lê Thánh Tông lập thêm thừa tuyên thứ 13.
Năm 1490, triều đình định bản đồ trong cả nước, quy định các khu vực hành chính thuộc 13 đạo thừa tuyên. Năm 1490 và quy định lại các đơn vị hành chính cấp xã… Có thể nói, bộ máy NNPK thời Lê tương đối cồng kềnh. Các quan lại theo thứ bậc cao thấp được hưởng đặc quyền theo NN quy định như cấp ruộng thế nghiệp, lộc điền…Ngoài ra còn quy định về cách ăn mặc, màu sắc quần áo…của các cấp quan mà dân thường không được áp dụng.2 Tình hình kinh tế - xã hội – tư tưởng 1.1 Tình hình kinh tế Về nông nghiệp. Sau giải phóng triều Lê khẩn trương tiến hành tịch thu ruộng đất của quân Minh và bọn tay sai, điền trang thái ấp của các quý tộc đã chết cùng ruộng bỏ hoang làm ruộng đất công để ban cấp cho quý tộc, quan 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lại làm lộc điền và chia cho dân cày theo chế độ quân điền.
Chính sách quân điền được triều Lê thi hành từ thời Lê Lợi đến thời Lê Thánh Tông, theo đó ruộng đất công làng xã được chia theo định kỳ 6 năm một lần, nông dân sử dụng đất phải nộp tô thuế cho NN. Thực hiện chế độ quân điền là một bước chuyển quan trọng trong sự phát triển của CĐPK Việt Nam. Ở thế kỷ XV, nó đã góp phần ổn định kinh tế tiểu nông, hạn chế sự phân hóa xã hội. Bên cạnh đó, để đảm bảo an toàn cho sản xuất, NN tiến hành lập sổ ruộng đất và chủ động phân phối.
Ruộng đất được phân phối làm 3 bộ phận chính: ruộng đất thuộc sở hữu NN; ruộng đất công làng xã; ruộng đất tư hữu. Bằng những nỗ lực nhằm phục hồi và phát triển kinh tế như ổn định tình hình ruộng đất, giảm sưu thuế cho dân, mặt khác, NN đặc biệt quan tâm đến việc bảo vệ và khuyến khích nông nghiệp như tích cực khai hoang, mở rộng diện tích canh tác, đồng thời chăm lo đến thuỷ lợi, đê điều nên nhìn chung đời sống nông dân tương đối ổn định, ấm no, thanh bình. Về công – thương nghiệp. Hoà bình lập lại, nhu cầu phục hồi và phát triển nông nghiệp, xóm làng, xây dựng lại kinh thành, trấn lị đã thúc đẩy sự phục hồi và phát triển nhanh chóng của các nghề thủ công.
Các ngành, nghề truyền thống như kéo tơ, dệt lụa, đan, rèn sắt, dệt chiếu, làm nón, đúc đồng ngày càng phát triển ở các làng. Những làng thủ công chuyên nghiệp lớn nổi lên như Bát Tràng, Nghĩa Đô, Huê Cầu, Hương Canh, Mao Điền, Bất Bế.Thăng Long là nơi tập trung nhiều ngành nghề thủ công của cả nước, bấy giờ được chia thành 36 phường. Góp phần vào sự phát triển của thủ công nghiệp, các công xưởng của NN được thành lập với tên gọi chung là cục Bách tác. Cục này chuyên đúc tiền, chế tạo vũ khí, đóng thuyền, đồ trang sức.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Để tiện cho việc buôn bán, trao đổi, nhà Lê bỏ tiền giấy thời Hồ, đúc tiền đồng mới và quy định rõ: 1 quan bằng 10 tiền, 1 tiền bằng 60 đồng. Các đơn vị đo lường cũng được thống nhất. Trên cơ sở của sự phát triển nông nghiệp và thủ công nghiệp, việc lưu thông buôn bán cũng hồi phục và ngày càng mở rộng. Các chợ địa phương mọc lên ở các làng, liên làng.
Chợ họp theo phiên và lần lượt từ chợ này sang chợ khác, rải đều trong tuần. Hàng hóa chủ yếu là nông phẩm hoặc các sản phẩm thủ công địa phương. Về ngoại thương. Thuyền bè các nước láng giềng vẫn qua lại trao đổi nhưng nhìn chung thưa thớt do nhiều năm liền NN thực hiện chính sách ức thương.
Vân Đồn, Vạn Ninh (thuộc Quảng Ninh), Càn Hải, Hội Thống (thuộc Nghệ An), một số địa điểm ở Lạng Sơn, Tuyên Quang.vẫn là những khu chợ trao đổi hàng. Các sản phẩm sành, sứ, vải lụa, lâm sản quý vẫn là những thứ hàng hóa mà thương nhân nước ngoài ham thích. Tuy nhiên, để giữ vững an ninh, NN đặt các trạm kiểm soát ở cảng khẩu.2 Xã hội Sự biến thiên lớn về chính trị, kinh tế đã làm thay đổi ít nhiều cơ cấu giai cấp trong xã hội. Hai giai cấp chính là địa chủ phong kiến và nông dân, ngày càng xác lập.
Giai cấp địa chủ phong kiến được chia thành hai tầng lớp chính: quý tộc, quan chức trung, cao cấp và địa chủ thường dần dần trở thành những người làm chủ về mọi mặt. Giai cấp nông dân chiếm tuyệt đại đa số cư dân, sống chủ yếu ở các làng xã, bao gồm nông dân tư hữu, tá điền và một ít nông nô. Phần lớn nông dân được chia ruộng công, cày cấy sinh sống, làm nghĩa vụ cho NN và ít nhiều được học hành. Tầng lớp thợ thủ công và thương nhân ngày càng đông hơn nhưng chưa trở thành một lực lượng lớn mạnh.
Nô tì vẫn còn là một tầng lớp đáng kể trong xã hội. Số đông trong họ là người Hoa hoặc các dân tộc ít người. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhờ sự nỗ lực của nhân dân và NN, nền kinh tế nhanh chóng được phục hồi rồi phát triển. Dân số ngày càng tăng, NN đã cho phép các làng có trên 500 hộ có thể tách ra, thành lập thêm làng mới.
Cuộc sống của nhân dân nói chung ổn định, thanh bình. Nền độc lập và thống nhất của nước Đại Việt được củng cố và có thể nói, bấy giờ Đại Việt là nước cường thịnh nhất của cả khu vực nam Trung Quốc.3 Cơ sở tư tưởng Từ cuối thời Trần, Nho giáo đã lấn át Phật giáo. Ở thời Hậu Lê, Nho giáo chiếm địa vị độc tôn. Do vậy, nó đã chi phối ở nhiều lĩnh vực, nhất là trong hệ thống giáo dục từ địa phương đến triều đình.
Lê Quý Đôn viết: “Khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470 – 1471) hằng năm ban phát sách công cho các phủ thư như Tứ thư, Ngũ kinh…Học quan do đấy để giảng dạy, khoa cử do đấy để lấy nhân tài”. Nhìn chung, ở thời Lê, sự lựa chọn Nho giáo là có ý thức của giai cấp thống trị phong kiến. Tư tưởng Nho giáo bảo vệ sự liên kết gia đình, dòng họ, xung quanh một triều đình và giữ gìn sự phân chia đẳng cấp xã hội phức tạp theo danh phận. Nhưng nó biết “dung hợp sự phân chia và liên kết này trên nền tảng đạo đức, luân lý và chính trị trên cơ sở quan niệm và hoạt động lễ và pháp hòa lẫn vào nhau được thần thánh hóa là trung hiếu, tam cương phục vụ cho yêu cầu của giai cấp thống trị phong kiến”.
Chính ý thức hệ tư tưởng này lại góp phần tích cực củng cố NNPK tập quyền quan liêu, củng cố nền thống nhất của xã hội nông nghiệp tạo ra một kỷ cương xã hội theo lễ và pháp. Để củng cố và tăng cường bộ máy NN, lập lại trật tự, kỷ cương xã hội, giai cấp phong kiến Việt Nam không thể không tìm đến đạo tu - tề - trị - bình cùng lý thuyết Chính danh định phận và Lễ trị của Nho giáo. Do vậy, các TĐPK Việt Nam nói chung và nhà Hậu Lê nói riêng đã đề cao Nho giáo và 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com coi Nho giáo như một lợi khí sắc bén trên mọi lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực chính trị tư tưởng. Nho giáo đã trở thành nền tảng cho việc tổ chức bộ máy NN và các hoạt động khác của đất nước.
Với sự lựa chọn có ý thức, tiếp nối những cơ cở Nho giáo, Nho học được gây dựng từ thời Lý – Trần – Hồ, Lê Thánh Tông đã lấy những quan điểm của Nho giáo làm hệ tư tưởng chỉ đạo việc biên soạn, ban hành pháp luật, nhằm thể chế hóa NNPK Đại Việt với truyển thống nhân nghĩa và lấy dân làm gốc. Cùng với đó, Nho giáo luôn là khuôn vàng thước ngọc, là phương tiện cơ bản nhất để đào tạo, tuyển chọn và sử dụng quan lại. Bởi vượt hơn hẳn những ý thức hệ khác, Nho giáo yêu cầu đội ngũ quan lại phải có những tố chất như: khả năng tham chính – trung thành và thanh liêm. Nội dung chính trị bao trùm lên học thuyết Nho giáo là hướng con người vào triết lý sống: “Tu thân – tề gia – trị quốc – bình thiên hạ” mà ở đó, đội ngũ giai cấp cầm quyền giữ vai trò tiên phong.
Quan lại được coi là cột xương sống của bộ máy chính quyền Nhà nước phong kiến, mà nho sĩ và khoa cử là vườn ươm của quan chức. Bởi thế, Lê Thánh Tông – vị vua đa tài nhất trong số các vị vua nước Việt thường xuyên trăn trở về vai trò, trách nhiệm và tiêu chuẩn trong việc xây dựng đội ngũ quan lại – rường cột của Nhà nước quan liêu. Nhận thức về vai trò đặc biêt quan trọng của quan lại là nhận thức bao trùm và chỉ đạo mọi nỗ lực xây dựng đội ngũ quan lại trong suốt cuộc đời làm vua của mình.