mở đầu, kết luận, nội dung của bài nghiên cứu khoa học gồm 2 chương với 4 tiết và các tiểu kết chương. Khái quát chung về Phật giáo và luật Hôn nhân và Gia đình ở Việt Nam hiện nay (gồm 2 tiết).Vai trò của giáo lý Phật giáo trong việc thực hiện luật Hôn nhân và Gia đình ở Việt Nam hiện nay (gồm 2 tiết) 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHẬT GIÁO VÀ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Một số khái quát chung về Phật giáo và Phật giáo Việt Nam 1.
Nguồn gốc ra đời và giáo lý cơ bản của Phật giáo Đạo Phật ra đời ở Ấn Độ từ thế kỷ thứ VI trước công nguyên, trong điều kiện xã hội phân chia theo chế độ đẳng cấp bất bình đẳng. Đạo Phật ra đời là sự kế thừa, tiếp nối các trào lưu tôn giáo, triết học nổi tiếng của Ấn Độ cổ đại và được coi là một trong những học thuyết xã hội chống lại sự bất công trong xã hội đương thời. Người sáng lập ra đạo Phật là Thái tử Tất Đạt Đa (Shidartha) sinh năm 624 trước công nguyên thuộc dòng họ Thích Ca (Sakyà), con vua Tịnh Phạn Vương Đầu Đà Na (Sudhodana) trị vì nước Ca Tỳ La Vệ (Kapilavasu) xứ Trung Ấn Độ lúc đó và hoàng hậu Ma Da (Maya). Dù sống trong cuộc đời vương giả nhưng Thái tử vẫn nhận ra sự đau khổ của nhân sinh, vô thường của thế sự nên Thái tử đã quyết tâm xuất gia tìm đạo nhằm tìm ra căn nguyên của đau khổ và phương pháp diệt trừ đau khổ để giải thoát khỏi sinh tử luân hồi.
Sau nhiều năm tìm thày học đạo, Thái Tử nhận ra rằng phương pháp tu hành của các vị đó đều không thể giải thoát cho con người hết khổ được. Cuối cùng, Thái tử đến ngồi nhập định dưới gốc cây Bồ đề và thề rằng “Nếu Ta không thành đạo thì dù thịt nát xương tan, ta cũng quyết không đứng dậy khỏi chỗ này”. Sau 49 ngày đêm thiền định, Thái tử đã đạt được Đạo vô thượng, thành bậc “Chánh đẳng chánh giác”, hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni. Đó là ngày 08 tháng 12 năm Đức Phật 31 tuổi.
Về văn hóa, thời kỳ này có những phát minh hết sức quan trọng về toán học (gồm cả số học và hình học), về thiên văn học, về triết học; đã chế tác được những đồ trang sức, đóng thuyền vượt biển,… Những thành tựu này trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần vào sự ra đời của Phật giáo. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về tín ngưỡng tôn giáo, thời kỳ này ở Ấn Độ đạo Bà la môn giữ địa vị thống trị. “Xét về mặt tôn giáo đạo Bà la môn đề cao vai trò của đấng tối cao Phạm Thiên, hạ thấp vai trò của con người đặc biệt là tầng lớp thấp hèn. Xét về mặt xã hội, đây là tôn giáo đề cao, tuyệt đối hóa sự bất bình đẳng giữa các đẳng cấp.
Đạo Phật ra đời, một mặt nó là sự phản bác lại đạo Bà la môn, mặt khác nó lại tiếp thu, kế thừa những quan niệm của tôn giáo Bà la môn như: phản bác sự bất bình đẳng, tiếp thu quan niệm về nghiệp, kiếp, luân hồi” 51; Tr.84] Về xã hội, thời kỳ này do có sự phát triển của sản xuất, của sở hữu tư sản về tư liệu sản xuất đã dẫn đến sự phân hóa và mâu thuẫn giai cấp sâu sắc. Ở Ấn Độ, do đặc điểm về kết cấu xã hội mà sự phân hóa này gắn chặt chẽ với sự phân hóa đẳng cấp, làm cho sự phân hóa giai cấp và đẳng cấp thêm khắc nghiệt. Về đại thể thời kỳ này có bốn đẳng cấp. Đẳng cấp thứ nhất là đẳng cấp tăng lữ (hay đẳng cấp Bà la môn) – đẳng cấp được coi là có địa vị cao nhất, thực chất đẳng cấp này vừa thực hiện chức năng thần quyền, vừa thực hiện một phần chức năng thế quyền.
Mặc dù đạo Bà la môn không có tổ chức giáo hội song sự kết hợp của nó với thế quyền làm cho đẳng cấp này có địa vị cao nhất. Đẳng cấp thứ hai là đẳng cấp quý tộc. Theo sự phân công xã hội thì đẳng cấp này thực hiện chức năng thế quyền, song một phần quyền lực bị đẳng cấp Bà là môn nắm giữ, lấn lướt. Thứ ba là đẳng cấp dân tự do.
Là bộ phận đông đảo nhất, là lực lượng sản xuất chủ yếu và có vai trò xã hội nhất định; địa vị xã hội của đẳng cấp này thấp hơn đẳng cấp tăng lữ và đẳng cấp quý tộc. Thứ tư là đẳng cấp nô lệ – đây là đẳng cấp có địa vị thấp nhất. Song khác với phương Tây, ở đây nô lệ không phải là lực lượng sản xuất chủ yếu, mà là nô lệ có tính gia đình, làm công việc hầu hạ, phục dịch cho các đẳng cấp trên. Sự phân hóa đẳng cấp như trên bị đẳng cấp Bà la môn thần thánh hóa, tuyệt đối hóa làm cho mâu thuẫn càng thêm sâu sắc.
Điều này 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dẫn đến các đẳng cấp thấp đấu tranh chống lại các đẳng cấp cao, nhất là chống lại đẳng cấp Bà la môn với mong muốn xóa bỏ bất bình đẳng giữa các đẳng cấp, tuy nhiên điều đó không đạt được kết quả trong hiện thực. Trên cơ sở ấy Phật giáo đã ra đời với mong muốn đưa lại sự bình đẳng cho con người, song đó là sự bình đẳng về tinh thần, sự bình đẳng về “tính Phật” về khả năng “giải thoát” để “thành Phật” và để đạt tới thế giới “Niết bàn”. Giáo lý cơ bản của đạo Phật: Phật giáo vừa là một tôn giáo, vừa là một trào lưu triết học, trong đó triết học Phật giáo là cơ sở cho những giáo lý của tôn giáo Phật giáo. “Triết học Phật giáo là một hệ thống phức tạp, nó đề cập nhiều vấn đề của giới tự nhiên, xã hội và tư duy.
Trong triết học Phật giáo chứa đựng cả những quan niệm duy vật và quan niệm duy tâm, đặc biệt nó đã xây dựng được phương pháp biện chứng hết sức sâu sắc” 50.88] Coi Phật giáo là một tôn giáo giải thoát và việc giải thoát gắn với vai trò của con người, thì giáo lý cơ bản của Phật giáo là “Tứ diệu đế” và “Niết bàn”. Vì “Tứ diệu đế” lý giải vấn đề về khổ và sự diệt khổ, và diệt khổ là để đến thế giới “Niết bàn”. Tứ diệu đế được Phật giáo coi là bốn chân lý hay bốn nền tảng: gồm khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế. Khổ đế: Phật giáo coi cuộc đời con người là khổ, theo quan niệm này, “cái khổ” bao gồm cả cái khổ và cái vui của đời sống trần tục, vì cái vui cũng chỉ là giả tạm.
Cho nên nghĩa chung nhất của chữ khổ ở đây là “vô thường” (không thường còn). Phật giáo cũng đã cố gắng chỉ ra những cái khổ của đời sống trần tục và quy nó vào “bát khổ” (8 cái khổ). Đó là sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, sở cầu bất đắc khổ (muốn mà không đạt được thì khổ), ái biệt ly khổ (thương yêu nhau mà phải xa nhau thì khổ), oán tăng hội khổ (thù ghét nhau mà phải sống với nhau thì khổ), ngũ u n xí thịnh khổ (sự thụ b m 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của yếu tố vật chất, sự tương tác của giác quan với thế giới bên ngoài – khổ). Tám cái khổ trên thuộc về quy luật sinh tồn và quan hệ thiết thực của con người, do vậy ở đây, thoát khổ của Phật giáo là thoát khỏ quy luật sinh tồn và quan hệ hiện thực của họ.
Đạo Phật cho rằng đời là bể khổ, nỗi đau khổ là vô tận, là tuyệt đối. Do đó, con người ở đâu, làm gì cũng khổ. Cuộc đời là đau khổ không còn tồn tại nào khác. Ngay cả cái chết cũng không chấm dứt sự khổ mà là tiếp tục sự khổ mới.
Phật ví sự khổ của con người bằng hình ảnh: “Nước mắt của chúng sinh nhiều hơn nước biển”. [33] Tập đế: Là triết lý về sự phát sinh, nguyên nhân gây ra sự khổ. “Tập” là tụ hợp, kết tập lại. Nguyên nhân của khổ là sự ham muốn, tìm sự thoả mãn dục vọng, thoả mãn được trở thành, thoả mãn được hoại diệt… Các loại ham muốn này là gốc của luân hồi.
Phật giáo đã chỉ ra mười nguyên nhân sau: thứ nhất là tham lam; thứ hai là giận dữ; thứ ba là si mê; thứ tư là khiêu mạn; thứ năm là nghi ngờ; thứ sáu là biên kiến; thứ bảy là tà kiến; thứ tám là kiến thủ; thứ chín là thân kiến; thứ mười là giới cấm. Đạo Phật cũng cho rằng nguyên nhân sâu xa của sự khổ, phiền não là do thập nhị nhân duyên, tức 12 nhân duyên tạo ra chu trình khép kín trong mỗi con người. 12 nhân duyên gồm: Vô minh (không sáng suốt): đồng nghĩa với mê tối, ít hiểu biết, không sáng suốt. Không hiểu được đời là bể khổ, không tìm ra nguyên nhân và con đường thoát khổ.
Trong 12 nhân duyên, vô minh là căn bản. Nếu không thấu hiểu Tứ diệu đế cũng được gọi là Vô minh; duyên hành: là ý muốn thúc đ y hành động; duyên thức: tâm từ trong sáng trở nên u tối; duyên danh sắc: sự hội tụ các yếu tố vật chất và tinh thần sinh ra các cơ quan cảm giác (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể và ý thức); duyên lục nhập: là quá trình xâm nhập của thế giới xung quanh vào các giác quan cảm giác, lúc đó thân sẽ sinh ra sáu cửa là: nhãn, nhĩ, tỳ, thiệt, thân để thiêu hủy, đón nhận; 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com duyên xúc: là sự tiếp xúc của thế giới xung quanh sinh ra cảm giác. Đó là sắc, thinh, hương vị, xúc và pháp khi tiếp xúc, đụng chạm vào; duyên thụ: là sự cảm thụ, sự nhận thức khi thế giới bên ngoài tiếp xúc với lục căn sinh ra cảm giác; duyên ái: là yêu thích mà nảy sinh ham muốn, dục vọng trước sự tác động của thế giới bên ngoài; duyên thủ: do yêu thích quyến luyến, không chịu xa lìa, rồi muốn chiếm lấy, giữ lấy không chịu buông ra; duyên hữu: cố để dành, tồn tại để tận hưởng cái đã chiếm đoạt được; duyên sinh: sự ra đời, sinh thành do phải tồn tại; duyên lão tử: khi đã sinh thì xác thân phải tiêu hoại mỏi mòn, trẻ rồi già, ốm đau rồi chết.