Luận văn: Nâng cao chất lượng GDPL cho HSQ, BS tại đơn vị cơ sở thuộc Binh đoàn Hương Giang

Luận văn thạc sĩ: Nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho hạ sĩ quan, binh sĩ tại đơn vị cơ sở thuộc Binh đoàn Hương Giang. Giải pháp và kiến nghị.

Trường đại học

Học viện Chính trị quân sự

Chuyên ngành

Xây dựng Đảng và công tác chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2009

99
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Tính cấp thiết của đề tài

Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Ý nghĩa của luận văn

Kết cấu của luận văn

1. Chương 1: NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬTCHO HẠ SĨ QUAN, BINH SĨ Ở ĐƠN VỊ CƠ SỞ BINH ĐOÀN HƯƠNG GIANG MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho hạ sĩ quan, binh sĩ ở đơn vị cơ sở thuộc Binh đoàn Hương Giang

1.1.1. Hạ sĩ quan, binh sĩ và giáo dục pháp luật cho hạ sĩ quan, binh sĩ ở đơn vị cơ sở thuộc Binh đoàn Hương Giang

1.1.2. Binh đoàn Hương Giang và đơn vị cơ sở thuộc Binh đoàn Hương Giang

Tóm tắt

I. GDPL cho HSQ BS tại Đơn vị Cơ sở Tầm quan trọng Quyết định Sức mạnh Quân đội

Quân đội nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, là một lực lượng kiểu mới mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Sự lãnh đạo này là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của Quân đội ta. Theo Điều 12 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mọi cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật. Vì vậy, Quân đội nhân dân Việt Nam phải là lực lượng gương mẫu trong việc chấp hành và bảo vệ pháp luật Nhà nước. Để cán bộ, chiến sĩ quân đội hiểu rõ và thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ này, giáo dục chính trị pháp luật quân đội (GDPL) đóng vai trò đặc biệt quan trọng.

Các đơn vị cơ sở quân đội, đặc biệt là các đơn vị thuộc Binh đoàn Hương Giang, là nơi trực tiếp tổ chức các hoạt động giáo dục và quản lý, duy trì việc thực hiện pháp luật cho hạ sĩ quan, binh sĩ (HSQ, BS) – lực lượng chiếm tỷ lệ rất cao. Trong những năm qua, công tác GDPL cho HSQ, BS đã được các cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên và người chỉ huy quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, mang lại những chuyển biến tích cực. Điều này góp phần xây dựng ý thức "sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật" của hạ sĩ quan, binh sĩ, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục quân sự nói chung.

Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế nhất định cần được khắc phục. Sự tác động của mặt trái kinh tế thị trường, âm mưu "diễn biến hòa bình", cùng với ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến và thói quen sinh hoạt tự do, đang tác động tiêu cực tới chất lượng, hiệu quả của GDPL cho HSQ, BS tại đơn vị cơ sở. Trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa và quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, GDPL ở các đơn vị cơ sở cần được thường xuyên tăng cường với chất lượng ngày càng cao hơn. Mục tiêu là làm cho cán bộ chiến sỹ hiểu biết và chấp hành nghiêm pháp luật, qua đó củng cố đoàn kết, thống nhất, góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Điều này chứng tỏ tầm quan trọng quyết định của GDPL trong việc củng cố sức mạnh tổng thể của Quân đội. (438 từ)

1.1. Định nghĩa và vai trò của giáo dục pháp luật quân đội đối với quân nhân

Giáo dục chính trị pháp luật quân đội (GDPL) là hoạt động có hệ thống nhằm tác động đến quân nhân, giúp họ hình thành tri thức, tình cảm và hành vi phù hợp với pháp luật hiện hành. Theo từ điển CTĐ, CTCT trong Quân đội nhân dân Việt Nam, GDPL là hoạt động của Đảng, Nhà nước và các tổ chức nhằm tuyên truyền, phổ biến các tri thức pháp luật, xây dựng ý thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm, thói quen, hành vi chấp hành pháp luật cho nhân dân và cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang [tr.271]. Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư cũng xác định phổ biến, GDPL là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị [1].

Vai trò của GDPL cho phổ biến pháp luật quân nhân là cực kỳ quan trọng. Nó trực tiếp góp phần nâng cao nhận thức pháp luật, hình thành thế giới quan và niềm tin vào pháp luật. Như C.Ăng-ghen đã chỉ rõ, nếu không quan tâm GDPL thì các bộ luật “sẽ biến thành mớ giấy lộn ngay” [35, tr.]. GDPL còn là cơ sở, điều kiện quan trọng bảo đảm pháp luật được thực thi nghiêm túc, giúp phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm kỷ luật quân đội, góp phần xây dựng nếp sống chính quy, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Công bố đạo luật này chưa phải đã là xong, mà còn phải tuyên truyền, giáo dục lâu dài mới thực hiện tốt được” [41, tr.]. Việc GDPL cũng góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ huy và tạo tiền đề để HSQ, BS sau khi xuất ngũ tham gia phổ biến pháp luật ở địa phương, củng cố Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. (298 từ)

1.2. Bối cảnh và đối tượng GDPL cho hạ sĩ quan binh sĩ ở đơn vị cơ sở

Bối cảnh triển khai GDPL cho hạ sĩ quan, binh sĩ tại đơn vị cơ sở Binh đoàn Hương Giang rất đặc thù. Binh đoàn là đơn vị chủ lực, cơ động, đóng quân trên địa bàn rộng, đảm nhiệm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Trong các đơn vị cơ sở quân đội này, HSQ, BS là lực lượng đông đảo nhất, chiếm 80-85% quân số, trực tiếp thực hiện mọi nhiệm vụ. Họ là lực lượng trẻ, khỏe, có trình độ học vấn khá tốt, thành phần xuất thân đa dạng. Tuy nhiên, một bộ phận HSQ, BS còn hạn chế về nhận thức pháp luật quân đội, bản lĩnh chính trị quân nhân chưa bền vững, dễ bị tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường và lối sống tự do.

Đặc điểm đối tượng HSQ, BS được chia thành ba nhóm: hạ sĩ quan, binh sĩ năm thứ nhất (60-65% quân số), chưa quen môi trường quân đội, ý thức tổ chức kỷ luật chưa cao; hạ sĩ quan, binh sĩ năm thứ hai (30-35%), đã có kiến thức cơ bản nhưng có thể hình thành tâm lý chủ quan; và hạ sĩ quan, binh sĩ năm thứ ba (3-5%), thường có trình độ học vấn cao hơn và nhu cầu học tập pháp luật chuyên sâu. Bối cảnh và đặc điểm đối tượng này đòi hỏi GDPL phải được thiết kế linh hoạt về nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục hiệu quả nhằm tránh căng thẳng tâm lý, nhàm chán, và đảm bảo sự chuyển biến vững chắc về ý thức và hành vi chấp hành pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục quân sự tại đơn vị cơ sở. (290 từ)

II. Thực trạng và Thách thức trong Nâng cao Chất lượng GDPL cho HSQ BS Hiện Nay

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, thực trạng nâng cao chất lượng GDPL cho HSQ, BS tại các đơn vị cơ sở vẫn bộc lộ những hạn chế và thách thức đáng kể. Một số cấp ủy, chỉ huy, đặc biệt ở cấp tiểu đoàn và đại đội, chưa thực sự coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức GDPL, dẫn đến tình trạng bị động, trông chờ vào cấp trên. Nghị quyết thường kỳ của một số chi bộ, đảng ủy bộ phận chưa quan tâm đúng mức đến lãnh đạo GDPL, chủ trương còn chung chung, thiếu tính thực tiễn [tr.37]. Cơ quan chính trị đơn vị ở một số nơi chưa chủ động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên kiêm chức, và vai trò trung tâm trong phối hợp giữa các tổ chức, lực lượng GDPL chưa được phát huy tối đa.

Việc đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp GDPL chưa được thường xuyên coi trọng. Nội dung giáo dục chậm cập nhật, chưa thực sự phong phú, đa dạng để phù hợp với đặc điểm đối tượng và yêu cầu nhiệm vụ của từng đơn vị. Hầu hết các đơn vị mới chỉ tập trung vào các nội dung theo quy định, chưa chủ động xác định nội dung bổ sung. Các hình thức giáo dục chính trị pháp luật quân đội chủ yếu vẫn là bài giảng, một số hình thức khác chưa phát huy tác dụng, thậm chí mang tính phong trào. Việc lồng ghép GDPL với các hoạt động khác như huấn luyện chính trị, công tác Đảng, công tác chính trị, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện chưa thực sự nhịp nhàng, đồng bộ. Báo cáo "Sơ kết 5 năm công tác giáo dục chính trị ở đơn vị" của Binh đoàn chỉ rõ: "Thực hiện nội dung, chương trình giáo dục có đơn vị vẫn còn chạy theo thanh toán chương trình; nặng về giáo dục cơ bản, chưa coi trọng đúng mức giáo dục thường xuyên, giáo dục bổ trợ… nặng về lý luận; định hướng tư tưởng, hướng dẫn hành động còn ít" [12, tr.3].

Kết quả là, GDPL chưa tạo ra sự chuyển biến tiến bộ vững chắc trong nhận thức pháp luật quân đội và thói quen chấp hành pháp luật của hạ sĩ quan, binh sĩ. Một bộ phận HSQ, BS vẫn còn nhận thức giản đơn, chưa tự giác chấp hành pháp luật, kỷ luật. Tình trạng vi phạm pháp luật và kỷ luật quân đội vẫn xảy ra, cá biệt có những vụ việc gây hậu quả nghiêm trọng. Tinh thần, thái độ đấu tranh với các biểu hiện sai trái, vi phạm pháp luật, kỷ luật của HSQ, BS chưa cao. (469 từ)

2.1. Những hạn chế bất cập trong hoạt động giáo dục chính trị và phổ biến pháp luật

Thực trạng hoạt động giáo dục chính trịphổ biến pháp luật quân nhân tại đơn vị cơ sở vẫn còn những hạn chế đáng lưu ý. Nhiều cấp ủy đảng, chỉ huy và cán bộ chính trị đơn vị chưa nhận thức đầy đủ vai trò, tầm quan trọng của GDPL, dẫn đến thiếu sự quan tâm đúng mức trong lãnh đạo, tổ chức. Điều này thể hiện qua các nghị quyết về GDPL còn chung chung, thiếu tính thực tiễn và sự thụ động, trông chờ vào cấp trên [tr.37]. Năng lực bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên kiêm chức còn hạn chế, làm giảm chất lượng truyền đạt kiến thức pháp luật.

Ngoài ra, sự phối hợp giữa các tổ chức, lực lượng tham gia GDPL chưa thực sự hiệu quả. Vai trò trung tâm của cơ quan chính trị trong hiệp đồng với các cơ quan bảo vệ pháp luật ở địa phương và cấp trên chưa được phát huy đầy đủ. Một số chính trị viên còn hạn chế về năng lực tổ chức điều hành các hình thức GDPL. Các cán bộ chỉ huy cấp đại đội đôi khi còn nặng về mệnh lệnh hành chính, coi nhẹ giáo dục thuyết phục, hoặc ngược lại, chỉ chú trọng giáo dục mà ít quan tâm rèn luyện, duy trì nghiêm kỷ luật quân độixây dựng môi trường văn hóa pháp luật ở đơn vị. Những bất cập này trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng nâng cao chất lượng giáo dục quân sự và hình thành nhận thức pháp luật quân đội sâu sắc cho HSQ, BS. (256 từ)

2.2. Tác động tiêu cực từ yếu tố khách quan đến nhận thức pháp luật quân đội của HSQ BS

Các yếu tố khách quan đóng góp không nhỏ vào những hạn chế của GDPL cho HSQ, BS. Mặt trái của cơ chế thị trường, với lối sống thực dụng, coi thường kỷ cương, phép nước, đã và đang làm xói mòn đạo đức quân nhân cách mạng và ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận hạ sĩ quan, binh sĩ. Tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong xã hội cũng tác động tiêu cực đến quân nhân. Những tư tưởng phong kiến, thói quen sinh hoạt tự do từ môi trường xuất thân vẫn chưa được khắc phục triệt để trong một bộ phận không nhỏ HSQ, BS, gây khó khăn cho việc hình thành nếp sống chính quy, tuân thủ kỷ luật quân độiquy định pháp luật về nghĩa vụ quân sự.

Âm mưu "diễn biến hòa bình" và thủ đoạn "phi chính trị hóa" quân đội của các thế lực thù địch cũng là một thách thức lớn. Chúng tập trung chống phá quân đội trên tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tưởng và tổ chức, làm cho một bộ phận cán bộ, chiến sĩ mơ hồ, mất cảnh giác, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí phấn đấu. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến bản lĩnh chính trị quân nhânnhận thức pháp luật quân đội của HSQ, BS, làm suy yếu động cơ tự giác trong học tập và rèn luyện theo Hiến pháp và pháp luật, cản trở việc xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. (262 từ)

III. Cách Mạng hóa Nội dung và Phương pháp GDPL cho HSQ BS để Tối Ưu Hiệu Quả

Để thực sự nâng cao chất lượng GDPL cho HSQ, BS tại đơn vị cơ sở, việc cách mạng hóa nội dung và phương pháp giáo dục hiệu quả là yêu cầu bức thiết. Nội dung GDPL phải được xây dựng toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm, sát với chức trách, nhiệm vụ của từng đối tượng và đặc điểm cụ thể của từng đơn vị. Không chỉ dừng lại ở các quy định chung, cần bổ sung các kiến thức chuyên biệt, cập nhật các luật, bộ luật mới ban hành như Luật Quốc phòng, Luật Nghĩa vụ quân sự (sửa đổi), Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Giao thông đường bộ. Điều này giúp hạ sĩ quan, binh sĩ có được khối lượng kiến thức pháp luật phù hợp, đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ và tự hoàn thiện kiến thức pháp luật sau này. (117 từ)

Trong GDPL cho HSQ, BS, mục tiêu là hình thành, làm sâu sắc và từng bước mở rộng hệ thống tri thức pháp luật; hình thành lòng tin pháp luật; và hình thành động cơ, hành vi tích cực pháp luật cho công dân. Các kiến thức chung về Nhà nước và pháp luật, những luật, bộ luật về quốc phòng, an ninh, điều lệnh quân đội, các quy định của đơn vị, cùng với các bộ luật, quy định liên quan đến lĩnh vực công tác của từng đối tượng theo yêu cầu, nhiệm vụ cần được ưu tiên. Điều này sẽ giúp củng cố nhận thức pháp luật quân đội và định hình bản lĩnh chính trị quân nhân vững chắc.

Về hình thức và phương pháp giáo dục hiệu quả, cần đa dạng hóa và linh hoạt hơn, tránh sự cứng nhắc, giáo điều gây nhàm chán. Bên cạnh các buổi huấn luyện chính trị theo chương trình cơ bản, cần tích cực tổ chức các buổi thông báo thời sự, ngày văn hóa, chính trị tinh thần hàng tháng, trong đó lồng ghép nội dung GDPL. Các hình thức nói chuyện pháp luật, thi tìm hiểu pháp luật, diễn đàn thanh niên về pháp luật và kỷ luật quân đội cần được sử dụng rộng rãi và có chiều sâu hơn. Việc sử dụng hệ thống khẩu hiệu, pa-nô tuyên truyền, tủ sách pháp luật, và mạng truyền thanh nội bộ cũng cần được khai thác tối đa. Đặc biệt, cần kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục chung với giáo dục riêng, giữa tổ chức giáo dục với rèn luyện thói quen chấp hành pháp luật, và phát huy vai trò tích cực tự giáo dục của hạ sĩ quan, binh sĩ. Sự phối hợp giữa GDPL với các hoạt động giáo dục chính trị khác, tuyên truyền cổ động, huấn luyện chính trịxây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện cần được thực hiện một cách nhịp nhàng, đồng bộ. Tránh tình trạng GDPL bị tách rời khỏi các hoạt động thực tiễn của đơn vị, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục quân sự và hình thành đạo đức quân nhân cách mạng sâu sắc cho mọi quân nhân. (409 từ)

3.1. Đổi mới nội dung huấn luyện chính trị và phổ biến pháp luật theo đặc thù đối tượng

Để GDPL cho hạ sĩ quan binh sĩ đạt hiệu quả cao, việc đổi mới nội dung huấn luyện chính trịphổ biến pháp luật quân nhân theo đặc thù từng đối tượng là cực kỳ quan trọng. Nội dung cần đảm bảo tính toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm, sát với chức trách, nhiệm vụ của từng cá nhân và đơn vị. Trên cơ sở giáo dục đầy đủ những nội dung theo quy định của Tổng cục Chính trị, các đơn vị cơ sở cần chủ động điều chỉnh, bổ sung những nội dung phù hợp với đặc điểm nhiệm vụ và tình hình chấp hành kỷ luật quân đội của đơn vị. Ví dụ, tập trung quán triệt nghị quyết, chỉ thị về phòng chống tham nhũng, luật giao thông đường bộ, và các quy định về phòng gian, giữ bí mật [tr.32].

Việc nâng cao chất lượng giáo dục quân sự đòi hỏi nội dung GDPL phải phù hợp với trình độ, tâm lý của HSQ, BS năm thứ nhất, thứ hai, thứ ba. Đối với chiến sĩ mới, cần tập trung vào các kiến thức cơ bản về Hiến pháp, pháp luật Nhà nước, quy định pháp luật về nghĩa vụ quân sự, và kỷ luật quân đội để giúp họ nhanh chóng hòa nhập. Đối với những người đã có thời gian trong quân ngũ, cần bổ sung các kiến thức chuyên sâu hơn, gắn với nhiệm vụ chuyên môn và khả năng ứng dụng thực tiễn. Nội dung phải đảm bảo tính khoa học, thiết thực, tránh giáo điều, khô khan, giúp HSQ, BS dễ tiếp thu, hình thành nhận thức pháp luật quân đội vững chắc và đạo đức quân nhân cách mạng kiên định. (293 từ)

3.2. Ứng dụng phương pháp giáo dục hiệu quả và hình thức đa dạng tại đơn vị cơ sở

Phương pháp giáo dục hiệu quả và hình thức đa dạng đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng GDPL cho HSQ, BS tại đơn vị cơ sở. Cần khắc phục lối giáo dục một chiều, lý thuyết suông. Thay vào đó, phải kết hợp linh hoạt các phương pháp giáo dục như thuyết trình, trao đổi, tọa đàm, diễn đàn, phê bình, rút kinh nghiệm [tr.20]. Các hình thức hoạt động giáo dục chính trị như thi tìm hiểu pháp luật, câu lạc bộ pháp luật, chiếu phim tài liệu, sân khấu hóa các tình huống pháp luật cần được tăng cường để tạo sự hứng thú và chủ động tham gia cho hạ sĩ quan, binh sĩ. Tổng cục Chính trị đã đề cập 5 hình thức chủ yếu: phổ biến, nói chuyện pháp luật; câu lạc bộ, đội thông tin, tuyên truyền cổ động, các cuộc thi; tuyên truyền qua báo chí, truyền thông; giáo dục qua văn học, nghệ thuật; dạy và học trong nhà trường [tr.5-6].

Đơn vị cơ sở cần tận dụng tối đa các kênh thông tin như mạng truyền thanh nội bộ, tủ sách pháp luật, báo chí để phổ biến pháp luật quân nhân một cách rộng rãi. Ứng dụng công nghệ thông tin vào GDPL qua các nền tảng trực tuyến, tài liệu điện tử là một hướng đi mới, giúp tiếp cận đối tượng trẻ hiệu quả hơn. Mục tiêu là biến quá trình GDPL thành quá trình tự giáo dục của HSQ, BS, khuyến khích tinh thần tự học, tự nghiên cứu pháp luật. Việc này đòi hỏi sự đầu tư về cơ sở vật chất, tài liệu và phương tiện giáo dục, cùng với việc thường xuyên đánh giá chất lượng giáo dục để điều chỉnh phương pháp kịp thời, từ đó góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. (300 từ)

3.3. Phát huy vai trò cán bộ chính trị đơn vị và công tác Đảng trong GDPL

Cán bộ chính trị đơn vịcông tác Đảng, công tác chính trị giữ vai trò nòng cốt trong việc nâng cao chất lượng GDPL cho HSQ, BS. Các cấp ủy đảng phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, có nghị quyết chuyên đề về GDPL, phân công cụ thể trách nhiệm cho từng ủy viên phụ trách. Cán bộ chính trị phải chủ động tham mưu, đề xuất các chủ trương, biện pháp GDPL phù hợp với thực tiễn, đồng thời xây dựng kế hoạch GDPL chặt chẽ, khoa học. Năng lực của đội ngũ cán bộ chính trị và báo cáo viên cần được bồi dưỡng thường xuyên về kiến thức pháp luật chuyên sâu, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng về quân sự và kỹ năng sư phạm.

Sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức, các lực lượng trong đơn vị (Đoàn Thanh niên, Hội đồng quân nhân) và các cơ quan bảo vệ pháp luật cấp trên, địa phương là yếu tố quan trọng. Cán bộ chính trị cần phát huy vai trò trung tâm trong hiệp đồng, tổ chức các hoạt động GDPL, hướng dẫn các cấp dưới thực hiện. Khi công tác Đảng, công tác chính trị được tăng cường, GDPL sẽ có định hướng chính trị vững vàng, nội dung phù hợp, và phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn đơn vị. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả phổ biến pháp luật quân nhân mà còn góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện về mọi mặt, củng cố bản lĩnh chính trị quân nhânđạo đức quân nhân cách mạng cho hạ sĩ quan, binh sĩ. (290 từ)

IV. Bí quyết Tăng cường Năng lực Lãnh đạo và Duy trì Kỷ luật Góp phần Nâng cao Chất lượng GDPL

Việc nâng cao chất lượng GDPL cho HSQ, BS tại đơn vị cơ sở không thể tách rời khỏi việc tăng cường năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp và duy trì kỷ luật quân đội nghiêm minh. Đây là một trong những bí quyết cốt lõi để đảm bảo GDPL đạt được mục tiêu đề ra. Các cấp ủy, cán bộ chủ trì cần nhận thức sâu sắc rằng sự lãnh đạo đúng đắn, sát hợp của tổ chức đảng và trách nhiệm, năng lực chỉ đạo, điều hành của cán bộ chủ trì có ý nghĩa quyết định đến chất lượng GDPL. Phải thường xuyên quán triệt nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước và quân đội về GDPL, cụ thể hóa thành các mục tiêu, nội dung, chương trình, kế hoạch sát thực. (120 từ)

Năng lực lãnh đạo không chỉ thể hiện ở việc xây dựng kế hoạch mà còn ở khả năng tổ chức thực hiện, kiểm tra, uốn nắn và đánh giá chất lượng giáo dục một cách khách quan. Cấp ủy, chỉ huy phải tạo điều kiện thuận lợi về thời gian, lực lượng, phương tiện cho GDPL, đồng thời biểu dương, khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc và xử lý nghiêm minh các vi phạm. Cán bộ chính trị đơn vị và đội ngũ giáo viên cần được bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, sư phạm, và đặc biệt là kiến thức về quy định pháp luật về nghĩa vụ quân sựkỷ luật quân đội.

Bên cạnh đó, việc kết hợp chặt chẽ giữa trang bị kiến thức pháp luật và tổ chức hoạt động thực tiễn duy trì nghiêm pháp luật, kỷ luật là nguyên tắc vàng. GDPL không chỉ là truyền thụ lý thuyết mà còn phải thông qua thực hành, rèn luyện thói quen chấp hành pháp luật trong mọi hoạt động của hạ sĩ quan, binh sĩ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông” [37, tr.]. Việc duy trì nghiêm pháp luật, kỷ luật tạo ra môi trường văn hóa pháp luật tích cực, giúp HSQ, BS củng cố vững chắc kiến thức, nâng cao nhận thức pháp luật quân đội, và rèn luyện bản lĩnh chính trị quân nhân để giải quyết các tình huống cụ thể. Phải khắc phục triệt để lối giáo dục giáo điều, tách rời lý thuyết với thực hành, hoặc bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, áp đặt một chiều mà coi nhẹ việc nâng cao tinh thần tự giác trong chấp hành pháp luật, kỷ luật, qua đó nâng cao chất lượng giáo dục quân sựxây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. (404 từ)

4.1. Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy chỉ huy về công tác Đảng công tác chính trị

Để nâng cao chất lượng GDPL cho HSQ, BS, điều cốt yếu là phải tăng cường nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cấp về công tác Đảng, công tác chính trị. Các cấp ủy đảng và người chỉ huy phải nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò, tầm quan trọng của GDPL là một bộ phận không thể thiếu của giáo dục chính trị pháp luật quân độixây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Từ đó, cần có chủ trương, biện pháp lãnh đạo cụ thể, sát hợp, không chung chung, rập khuôn. Các nghị quyết thường kỳ của cấp ủy đảng cần dành dung lượng thích hợp để bàn về GDPL, đặc biệt là trong các thời điểm đơn vị có dấu hiệu gia tăng vi phạm hoặc thực hiện nhiệm vụ quan trọng [tr.30].

Trách nhiệm của hệ thống chỉ huy, chính ủy, chính trị viên thể hiện ở việc quán triệt nghị quyết, chỉ thị và tổ chức GDPL chặt chẽ, khoa học. Cần có sự thống nhất cao trong lãnh đạo, chỉ đạo, thường xuyên trao đổi, bàn bạc để xây dựng kế hoạch GDPL tích hợp vào kế hoạch công tác Đảng, công tác chính trị chung của đơn vị. Cán bộ chính trị đơn vị phải là lực lượng nòng cốt trong tham mưu, đề xuất và tổ chức thực hiện. Việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm này không chỉ giúp GDPL có định hướng chính trị vững vàng theo đường lối của Đảng về quân sựTư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn đảm bảo các nguồn lực (thời gian, vật chất, nhân lực) được phân bổ hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi nhất để phổ biến pháp luật quân nhân đạt hiệu quả cao. (297 từ)

4.2. Kết hợp chặt chẽ GDPL với duy trì kỷ luật quân đội và xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện

Một trong những kinh nghiệm quan trọng để nâng cao chất lượng GDPL cho HSQ, BS là phải kết hợp chặt chẽ giữa việc trang bị kiến thức pháp luật với việc duy trì nghiêm kỷ luật quân đội và các quy định của đơn vị. GDPL không chỉ dừng lại ở việc nâng cao nhận thức pháp luật quân đội mà còn phải hình thành thói quen hành vi chấp hành pháp luật cho hạ sĩ quan, binh sĩ. Môi trường văn hóa pháp luật tích cực, được xây dựng và duy trì nghiêm túc, chính là điều kiện tiên quyết để HSQ, BS rèn luyện ý thức tự giác, bản lĩnh chính trị quân nhânđạo đức quân nhân cách mạng.

Quá trình GDPL cần gắn liền với việc kiểm tra, phát hiện, uốn nắn và xử lý nghiêm minh, chính xác, kịp thời những biểu hiện vi phạm pháp luật, kỷ luật. Tránh hiện tượng bao che, thiếu kiên quyết [tr.28]. Mục đích cuối cùng của GDPL là góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện về mọi mặt, từ chính trị, tư tưởng đến tổ chức và năng lực sẵn sàng chiến đấu. Do đó, GDPL phải bám sát nhiệm vụ chính trị của đơn vị, chức trách của từng cá nhân. Kết quả hoàn thành nhiệm vụ, sự vững mạnh của các tổ chức, của đơn vị và sự tiến bộ của HSQ, BS về mọi mặt cần được xem là tiêu chí để đánh giá chất lượng giáo dục pháp luật. Điều này giúp GDPL trở nên thiết thực, hiệu quả và có ý nghĩa lâu dài trong việc hình thành phẩm chất quân nhân cách mạngnâng cao chất lượng giáo dục quân sự. (295 từ)

V. Kết quả Đạt được và Bài học Kinh nghiệm Vàng từ Công tác GDPL Thực tiễn

Công tác GDPL cho HSQ, BS tại đơn vị cơ sở trong những năm qua đã mang lại những kết quả tích cực, chứng minh vai trò không thể thiếu của nó trong việc nâng cao chất lượng giáo dục quân sự. Nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, cán bộ chủ trì, và sự nỗ lực của các tổ chức, lực lượng, GDPL luôn đảm bảo đúng định hướng chính trị, có nội dung và phương pháp giáo dục hiệu quả phù hợp. Cụ thể, 85,5% sĩ quan và 79,0% hạ sĩ quan, binh sĩ được khảo sát đều khẳng định cấp ủy đảng thường xuyên quan tâm đến GDPL. Trình độ, khả năng giáo dục và duy trì pháp luật của đội ngũ cán bộ các cấp được đánh giá khá và tốt bởi 68,0% ý kiến [tr.32].

Nội dung, hình thức, phương pháp GDPL đã được vận dụng linh hoạt, đa dạng. Các đơn vị không chỉ duy trì huấn luyện chính trị theo chương trình cơ bản mà còn tổ chức nhiều buổi nói chuyện pháp luật, thi tìm hiểu, diễn đàn thanh niên về pháp luật và kỷ luật quân đội. Ví dụ, Lữ đoàn 673 và Trung đoàn 95 đã tổ chức được 4 cuộc thi tìm hiểu pháp luật, kỷ luật. Viện Kiểm sát quân sự và Phòng Điều tra hình sự Binh đoàn đã tham gia hơn 200 buổi nói chuyện pháp luật cho hơn 20.000 lượt cán bộ, chiến sĩ ở các đơn vị cơ sở [tr.33]. Hệ thống tủ sách pháp luật, khẩu hiệu, pa-nô tuyên truyền cũng được đầu tư và hoạt động hiệu quả. Hơn 90% HSQ, BS được khảo sát cho biết đã học tập pháp luật qua tất cả các hình thức.

Quan trọng hơn, GDPL đã góp phần tạo sự chuyển biến rõ nét về nhận thức pháp luật quân đội và thói quen chấp hành pháp luật, kỷ luật của HSQ, BS. Kết quả kiểm tra nhận thức chính trị, trong đó có nội dung kiểm tra về pháp luật, kỷ luật của HSQ, BS ở Binh đoàn năm 2006: 100% đạt yêu cầu trong đó có 80,3% đạt khá, giỏi; đến năm 2009: 100% đạt yêu cầu, trong đó 81,7% đạt khá và giỏi [tr.33-34]. 96,0% HSQ, BS nhận định GDPL ở đơn vị là rất quan trọng và 93,5% khẳng định trình độ hiểu biết pháp luật tốt hơn so với trước khi nhập ngũ. Tình trạng vi phạm pháp luật, kỷ luật giảm đáng kể. Số vụ vi phạm pháp luật giảm từ 5 vụ (năm 2006) xuống còn 2 vụ (năm 2009). Tỷ lệ vi phạm kỷ luật thông thường giảm từ 0,47% (năm 2006) xuống còn 0,07% (năm 2009). Đặc biệt, tình trạng đào, bỏ ngũ giảm đáng kể, thậm chí không có trường hợp nào trong năm 2010 [tr.34].

GDPL cũng đã góp phần quan trọng xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện và hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ được giao. Hàng năm, trên 95% tổ chức đảng các cấp đạt trong sạch vững mạnh. 100% đơn vị cơ sở hoàn thành nhiệm vụ, nhiều đơn vị đạt danh hiệu huấn luyện giỏi như Trung đoàn 101, 95; Lữ đoàn 673, 203 [tr.35]. Điều này cho thấy GDPL không chỉ tác động đến cá nhân hạ sĩ quan, binh sĩ mà còn củng cố sức mạnh tổng thể của đơn vị. (490 từ)

5.1. Chuyển biến tích cực về bản lĩnh chính trị quân nhân và đạo đức quân nhân cách mạng

Thông qua các hoạt động giáo dục chính trịGDPL cho HSQ, BS, đã có những chuyển biến rõ rệt về bản lĩnh chính trị quân nhânđạo đức quân nhân cách mạng. Hạ sĩ quan, binh sĩ đã nhận thức đúng đắn hơn về Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng về quân sự trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Họ hiểu sâu sắc vị trí, vai trò của pháp luật trong cuộc sống và trong việc xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Điều này được thể hiện qua kết quả kiểm tra nhận thức chính trị, với tỷ lệ đạt yêu cầu và khá giỏi cao (81,7% năm 2009) [tr.34].

Sự chuyển biến này không chỉ dừng lại ở kiến thức mà còn thể hiện trong hành vi. HSQ, BS đã nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật quân đội, các quy định pháp luật về nghĩa vụ quân sự, và các quy định của đơn vị. Trình độ ứng xử trong các quan hệ pháp luật được nâng lên rõ rệt, từ quan hệ cá nhân với tổ chức, cấp dưới với cấp trên, đồng chí đồng đội đến quan hệ với nhân dân, được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định [tr.34]. Phần lớn HSQ, BS có thái độ đúng đắn, kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện sai trái, tiêu cực, góp phần tích cực vào việc thực hiện các nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, và công tác dân vận. Những thành quả này là minh chứng cho việc GDPL chất lượng cao là nền tảng vững chắc cho sự phát triển phẩm chất quân nhân cách mạng. (283 từ)

5.2. Bài học kinh nghiệm trong đánh giá chất lượng giáo dục và triển khai quán triệt nghị quyết chỉ thị

Từ thực tiễn GDPL cho HSQ, BS tại Binh đoàn Hương Giang, nhiều bài học kinh nghiệm quý giá đã được rút ra, đặc biệt trong việc đánh giá chất lượng giáo dục và triển khai quán triệt nghị quyết, chỉ thị. Một trong những bài học quan trọng là phải đặc biệt coi trọng nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp đối với GDPL. Sự lãnh đạo đúng đắn, sát hợp của tổ chức đảng, cùng với trách nhiệm và năng lực chỉ đạo, điều hành của cán bộ chủ trì, là yếu tố quyết định chất lượng GDPL [tr.46]. Kinh nghiệm cho thấy, ở đâu các tổ chức đảng thiếu quan tâm lãnh đạo, cán bộ chủ trì thiếu trách nhiệm, ở đó GDPL sẽ thiếu đồng bộ, kém hiệu quả, thậm chí chỉ dừng lại ở giấy tờ [tr.47].

Việc thường xuyên đánh giá chất lượng giáo dục pháp luật một cách khách quan, toàn diện dựa trên các tiêu chí cụ thể (từ nhận thức đến hành vi chấp hành pháp luật, kỷ luật quân đội) giúp kịp thời phát hiện ưu điểm để phát huy và hạn chế để khắc phục. Đồng thời, việc quán triệt nghị quyết, chỉ thị phải được thực hiện sâu rộng, biến các quan điểm, đường lối của Đảng về quân sự thành mục tiêu, nội dung, chương trình GDPL cụ thể, sát thực. Cần chú ý kết hợp chặt chẽ giữa trang bị kiến thức pháp luật với tổ chức hoạt động thực tiễn, duy trì nghiêm pháp luật, kỷ luật ở đơn vị cơ sở. Đây là những nền tảng vững chắc để tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục quân sựphổ biến pháp luật quân nhân trong tương lai, góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. (298 từ)

VI. Định hướng Phát triển và Tương lai Vững mạnh của GDPL cho HSQ BS

Trong bối cảnh hiện nay, việc định hướng phát triển và nâng cao chất lượng GDPL cho HSQ, BS tại đơn vị cơ sở là một nhiệm vụ chiến lược, đảm bảo tương lai vững mạnh cho quân đội. GDPL là một bộ phận không thể tách rời của hoạt động giáo dục chính trị, có ý nghĩa quyết định đến việc hình thành phẩm chất quân nhân cách mạng, bản lĩnh chính trị quân nhânđạo đức quân nhân cách mạng. Các nguyên tắc cơ bản cần được quán triệt sâu sắc bao gồm việc GDPL phải luôn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng về quân sự và chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa [tr.27].

Tương lai của GDPL cho HSQ, BS đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa trang bị kiến thức pháp luật với tổ chức hoạt động thực tiễn duy trì nghiêm pháp luật, kỷ luật quân đội ở đơn vị. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, lý luận phải đi đôi với thực tiễn, GDPL phải gắn với rèn luyện hành vi chấp hành pháp luật [37, tr.]. Việc này giúp hạ sĩ quan, binh sĩ củng cố vững chắc kiến thức, nâng cao nhận thức pháp luật quân đội và tinh thần tự giác trong chấp hành pháp luật, kỷ luật. Đồng thời, GDPL phải gắn với nhiệm vụ chính trị của đơn vị, chức trách của từng cá nhân, góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện [tr.28]. Mục tiêu cuối cùng là làm cho mọi hạ sĩ quan, binh sĩ hiểu biết và chấp hành nghiêm pháp luật, qua đó củng cố đoàn kết, thống nhất, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ.

Để đạt được những mục tiêu này, cần tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục hiệu quả, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, và xây dựng môi trường văn hóa pháp luật tích cực. Đặc biệt, cần phát huy vai trò của tất cả các tổ chức, các lực lượng trong đơn vị, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong GDPL. Sự nỗ lực, tích cực, chủ động sáng tạo của các tổ chức, các lực lượng ở đơn vị cơ sở là nguyên nhân trực tiếp, cơ bản của những thành công trong GDPL cho HSQ, BS [tr.43]. Khi công tác Đảng, công tác chính trị được tăng cường, cán bộ chính trị đơn vị phát huy vai trò nòng cốt, và HSQ, BS chủ động tự giáo dục, tự rèn luyện, chất lượng GDPL sẽ ngày càng được nâng cao, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. (460 từ)

6.1. Các nguyên tắc cốt lõi nâng cao chất lượng giáo dục quân sự và pháp luật

Việc nâng cao chất lượng giáo dục quân sự nói chung và GDPL cho HSQ, BS nói riêng phải dựa trên những nguyên tắc cốt lõi đã được đúc kết từ thực tiễn. Thứ nhất, phải quán triệt và thực hiện đúng đắn quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa. GDPL phải hướng tới xây dựng ý thức và thói quen "sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật" cho hạ sĩ quan, binh sĩ. Mọi chủ trương, biện pháp GDPL cần được cụ thể hóa từ đường lối của Đảng về quân sựquán triệt nghị quyết, chỉ thị của cấp trên [tr.27].

Thứ hai, phải kết hợp chặt chẽ giữa trang bị kiến thức pháp luật với tổ chức hoạt động thực tiễn, duy trì nghiêm kỷ luật quân độiđơn vị cơ sở. Lý luận phải gắn liền với thực hành để nhận thức pháp luật quân đội của HSQ, BS được củng cố và biến thành hành vi tự giác [tr.28]. Thứ ba, GDPL phải gắn với nhiệm vụ chính trị của đơn vị và chức trách của từng cá nhân, góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Cuối cùng, phải kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục với tự giáo dục, rèn luyện của hạ sĩ quan, binh sĩ. Khuyến khích tinh thần chủ động, tích cực tự giác học tập, nghiên cứu pháp luật. Những nguyên tắc này là kim chỉ nam để nâng cao chất lượng GDPL một cách bền vững. (288 từ)

6.2. Triển vọng xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện qua GDPL hiệu quả

Khi GDPL cho HSQ, BS được nâng cao chất lượng một cách toàn diện và hiệu quả, triển vọng xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện sẽ trở nên rõ nét hơn bao giờ hết. Một đội ngũ hạ sĩ quan, binh sĩnhận thức pháp luật quân đội sâu sắc, bản lĩnh chính trị quân nhân vững vàng, và đạo đức quân nhân cách mạng kiên định, sẽ là nền tảng vững chắc cho mọi hoạt động của đơn vị. Sự tự giác chấp hành pháp luật, kỷ luật quân đội sẽ giảm thiểu các vụ việc vi phạm, tạo môi trường công tác lành mạnh, ổn định.

GDPL chất lượng cao sẽ củng cố tinh thần đoàn kết, thống nhất trong nội bộ đơn vị, tăng cường hiệu lực lãnh đạo, chỉ huy. Nó giúp HSQ, BS phát huy tối đa vai trò, trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, huấn luyện chính trị, sẵn sàng chiến đấu, và các mặt công tác Đảng, công tác chính trị khác. Các chỉ số về chất lượng đảng viên, tỷ lệ đơn vị hoàn thành nhiệm vụ, và các phong trào thi đua sẽ tiếp tục được cải thiện. Hơn nữa, GDPL hiệu quả còn tạo tiền đề cho hạ sĩ quan, binh sĩ sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở thành những công dân gương mẫu, tích cực tham gia phổ biến pháp luật tại địa phương, góp phần vào sự phát triển chung của xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây chính là minh chứng cho giá trị và ý nghĩa lâu dài của việc đầu tư vào GDPL tại đơn vị cơ sở. (293 từ)

27/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬTCHO HẠ SĨ QUAN, BINH SĨ Ở ĐƠN VỊ CƠ SỞ BINH ĐOÀN HƯƠNG GIANG MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho hạ sĩ quan, binh sĩ ở đơn vị cơ sở thuộc Binh đoàn Hương Giang.1 Hạ sĩ quan, binh sĩ và giáo dục pháp luật cho hạ sĩ quan, binh sĩ ở đơn vị cơ sở thuộc Binh đoàn Hương Giang. * Binh đoàn Hương Giang và đơn vị cơ sở thuộc Binh đoàn Hương Giang. Binh đoàn Hương Giang là một binh đoàn chủ lực, cơ động của Quân đội nhân dân Việt Nam, được thành lập ngày 17 tháng 05 năm 1974 tại chiến trường miền Nam.

Binh đoàn gồm 3 sư đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng kỹ thuật. Nhiều đơn vị của Binh đoàn được thành lập ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ 2, đã tham gia nhiều chiến dịch trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, có bề dày lịch sử và truyền thống vẻ vang Hơn 35 năm xây dựng, trưởng thành, BĐHG đã cơ động chiến đấu trên khắp các chiến trường từ Bắc vào Nam, làm tròn nhiệm vụ quốc tế vẻ vang, cùng với quân dân cả nước đập tan chế độ tay sai ngụy quân, ngụy quyền, giải phóng toàn vẹn đất nước; xây dựng đơn vị luôn luôn VMTD, có trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu cao, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho, xây dựng nên truyền thống “thần tốc, táo bạo, quyết thắng”. Với những thành tích đã đạt được trong chiến đấu và xây dựng, Binh đoàn được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và trao tặng nhiều phần thưởng cao quý khác. Hiện nay, Binh đoàn đóng quân trên địa bàn rộng, bao gồm cả miền núi, trung du, đồng bằng; cả nông thôn và thành thị của ba tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Hà Nội.

Binh đoàn là đơn vị chủ lực, cơ động, dự bị chiến lược của Bộ Quốc phòng, được giao nhiệm vụ đảm nhiệm một hướng phòng thủ chiến lược với nhiệm vụ chính trị trung tâm là huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, 11 tham gia các hoạt động dân vận, phòng chống thiên tai, thảm hoạ và cứu hộ, cứu nạn…Ý thức sâu sắc nhiệm vụ trên giao, cán bộ chiến sĩ BĐHG đã và đang phát huy cao độ truyền thống: “Thần tốc, táo bạo, quyết thắng”, xây dựng Binh đoàn theo hướng cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Các ĐVCS cấp trung đoàn, lữ đoàn làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu ở BĐHG hiện nay gồm: các trung đoàn bộ binh đủ quân 101, 95, 18 thuộc Đoàn 325; các trung, lữ đoàn binh chủng kỹ thuật: pháo binh 164, tăng- thiết giáp 203, phòng không 673, công binh 219. Biên chế, tổ chức các trung, lữ đoàn thuộc BĐHG bao gồm chỉ huy trung (lữ) đoàn; 4 cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật; các tiểu đoàn, và các đại đội trực thuộc. Các ĐVCS thuộc BĐHG là nơi trực tiếp giáo dục, huấn luyện bộ đội, xây dựng con người và tổ chức vững mạnh, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu; khả năng và trình độ sẵn sàng chiến đấu.

ĐVCS là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ trương, đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhiệm vụ của quân đội và đơn vị. Sự vững mạnh của các ĐVCS ảnh hưởng quyết định đến sự vững mạnh của quân đội ta cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. * Hạ sĩ quan, binh sĩ ở đơn vị cơ sở thuộc Binh đoàn Hương Giang. Trong các ĐVCS thuộc BĐHG bao gồm nhiều đối tượng: sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng và HSQ, BS.

Trong đó, HSQ, BS là lực lượng đông đảo nhất với tỉ lệ 80-85% quân số. HSQ, BS ở ĐVCS là những quân nhân có bậc quân hàm từ binh nhì đến thượng sĩ, giữ chức vụ cao nhất đến khẩu đội trưởng, tiểu đội trưởng. HSQ, BS có vai trò rất quan trọng: là lực lượng trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị, bảo đảm cho mọi kế hoạch công tác của đơn vị được triển khai đúng tiến độ và đạt được mục đích, yêu cầu, chỉ tiêu đặt ra Đặc điểm cơ bản của hạ sĩ quan, binh sĩ ở đơn vị cơ sở thuộc Binh đoàn Hương Giang: Về chính trị, sức khoẻ, môi trường công tác, HSQ, BS là lực lượng trẻ, khoẻ, tuyệt đại đa số là đoàn viên thanh niên, họ được tuyển chọn kỹ về thể lực, lai lịch 12 chính trị, quan hệ xã hội của gia đình và bản thân trước khi vào quân đội. Họ được tổ chức ăn, ở, sinh hoạt, học tập, công tác tập trung trong các khu vực doanh trại theo biên chế của quân đội và được đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ huy, quản lý trực tiếp của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ các cấp ở ĐVCS.

Họ có chung điều kiện sống, chung nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Về thành phần xuất thân, HSQ, BS là con em của tầng lớp nhân dân của một số dân tộc, tôn giáo nên họ chịu sự tác động rất mạnh của gia đình và xã hội, kể cả mặt tích cực lẫn tiêu cực, trong đó thành phần xuất thân từ nông thôn chiếm tỷ lệ cao, nhìn chung vẫn tương đối thuần nhất, số lượng, chất lượng HSQ, BS biến đổi gắn liền với các đợt tuyển quân của các đơn vị và phụ thuộc vào địa bàn tuyển quân. Về trình độ hiểu biết, tâm lý lứa tuổi, HSQ, BS là những thanh niên có hiểu biết về nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và đời sống. Họ nhạy cảm với thời cuộc, nhất là những vấn đề có liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ và quyền lợi trong thời kỳ tại ngũ.

Tuy nhiên, họ đang trong quá trình tiếp nhận và tự tích luỹ tri thức, kinh nghiệm sống, hình thành và phát triển những phẩm chất nhân cách quân nhân nên một bộ phận HSQ, BS còn gặp những khó khăn, nhất là về định hướng chính trị. Không ít HSQ, BS do hạn chế về nhận thức và giác ngộ chính trị chưa cao, bản lĩnh chính trị chưa bền vững, nên thiếu trách nhiệm với đơn vị, quân đội và bản thân mình, biểu hiện tư tưởng trung bình chủ nghĩa trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện và công tác. Một bộ phận HSQ, BS dễ bị tác động của mặt trái cơ chế thị trường, của tư tưởng tiêu cực, lạc hậu và lối sống tự do, thiếu ý thức kỷ luật, ý thức chấp hành pháp luật… Về địa bàn đóng quân, rộng, bao gồm cả miền núi, trung du, đồng bằng; cả nông thôn và thành thị với đặc điểm kinh tế - xã hội rất đa dạng, nhất là sự chênh lệnh về trình độ dân trí. Quá trình GDPL cho HSQ, BS ở ĐVCS thuộc BĐHG là quá trình phát triển phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, nhận thức và hành vi pháp luật đã được hình thành trong gia đình, trường học, nơi công tác trước đây.

Quá trình đó chịu tác động không nhỏ của môi trường công tác mới và địa bàn đóng quân của đơn vị. Về nhiệm vụ, ĐVCS thuộc BĐHG là các đơn vị làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, cường độ huấn luyện cao, việc duy trì kỷ luật, chế độ ngày, tuần và các 13 chế độ trực sẵn sàng chiến đấu nghiêm túc, chặt chẽ đòi hỏi sức chịu đựng cao về tâm lý và thể lực. Vì vậy, nếu không có nội dung, hình thức giáo dục phù hợp rất dễ tạo ra sự căng thẳng về tâm lý, mệt mỏi về sức khoẻ, thể chất, thậm trí tạo ra “sức ỳ”, tư tưởng “trung bình chủ nghĩa” trong một bộ phận HSQ, BS. Hạ sĩ quan, binh sĩ ở ĐVCS thuộc BĐHG gồm ba đối tượng: HSQ, BS năm thứ nhất, HSQ, BS năm thứ hai và HSQ, BS năm thứ ba.

Hạ sĩ quan, binh sĩ năm thứ nhất ở các ĐVCS thuộc BĐHG có số lượng từ 60 – 65% tổng số HSQ, BS ở ĐVCS. Đây là đối tượng vừa được biên chế về đơn vị sau khi hoàn thành nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ mới. Do chưa quen với môi trường quân đội và nếp sống chính quy lại bị ảnh hưởng của lối sống cũ của thành phần xuất thân nên còn biểu hiện tính tự do, tuỳ tiện, ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành pháp luật chưa cao. Trong học tập, sinh hoạt thiếu mạnh dạn, chủ động; phương pháp nghe, ghi chép, tham gia thảo luận, tranh luận chưa khoa học.

Hạ sĩ quan, binh sĩ năm thứ hai chiếm khoảng 30 – 35% tổng số HSQ, BS ở ĐVCS. Đối tượng này đã trải qua thời gian được giáo dục, rèn luyện, đã được trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản về mọi mặt. Đã hình thành ý thức và thói quen chấp hành pháp luật, kỷ luật. Bước đầu đã hình thành kinh nghiệm trong học tập, khả năng nghe, ghi, liên hệ, vận dụng vào thực tiễn có bước trưởng thành, tiến bộ rõ rệt.

Tuy nhiên, số ít trong đối tượng này hình thành tâm lý chủ quan, tính tích cực, tự giác trong học tập, rèn luyện giảm dần; vai trò gương mẫu trong học tập, rèn luyện không được phát huy. Hạ sĩ quan, binh sĩ năm thứ ba chiếm khoảng 3 -5% HSQ, BS ở ĐVCS. Đối tượng này chủ yếu gồm HSQ, BS chuyên môn kỹ thuật, có trình độ học vấn cao hơn mặt bằng chung của HSQ, BS nói chung. Phần lớn đối tượng này đã được học tập, rèn luyện trong các nhà trường quân đội nên nhận thức, trách nhiệm, khả năng tư duy, học tập và hoạt động thực tiễn tương đối tốt.

Tuy nhiên với đối tượng này lại hình thành nhu cầu học tập pháp luật với nội dung, hình thức khác hai đối tượng trên. 14 * Giáo dục pháp luật cho hạ sĩ quan, binh sĩ ở đơn vị cơ sở thuộc Binh đoàn Hương Giang. Trong bất cứ xã hội nào cũng cần có những quy phạm điều chỉnh đối với các quan hệ xã hội để bảo đảm sự ổn định và trật tự xã hội, trong đó có pháp luật. Pháp luật là: “Những quy phạm hành vi do Nhà nước ban hành mà mọi người dân buộc phải tuân theo, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và bảo vệ trật tự xã hội” [52, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ