Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ "Gắn kết với tổ chức của giảng viên các trường đại học, cao đẳng" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Phạm Thị Hồng Phương tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2018, thuộc chuyên ngành Tâm lý học (mã số: 62 31 04 01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Thị Minh Loan và PGS. Lê Thị Thanh Hương. Hội đồng chấm luận án do GS. Trần Thị Minh Đức làm Chủ tịch.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng đòi hỏi đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn, phẩm chất nhà giáo và kỹ năng sư phạm để duy trì chất lượng đào tạo và uy tín xã hội. Biến động nhân sự như giảng viên xin chuyển công tác hoặc thôi việc gây ra tổn thất về chi phí tuyển dụng, bồi dưỡng, gián đoạn tiến độ giảng dạy và mất cân bằng lực lượng lao động (Trần Văn Ngợi, 2015). Dẫn chứng thực tế tại Việt Nam cho thấy tình trạng dịch chuyển nguồn nhân lực trình độ cao diễn ra rõ nét: giai đoạn 2008–2011, Trường Đại học Đà Lạt có 72 cán bộ chuyển công tác trên tổng số 500 nhân sự (gồm 8 tiến sĩ, 27 thạc sĩ, 37 cử nhân); Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương trong hơn một năm có 5 tiến sĩ chuyển sang các trường đại học do định hướng phát triển của hệ thống cao đẳng sư phạm chưa ổn định. Bên cạnh đó, một bộ phận giảng viên làm việc nhưng thiếu sự gắn bó, có thái độ thụ động hoặc không cống hiến hết tiềm năng.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra gồm:
- Các nghiên cứu trước đây thường tiếp cận gắn kết của giảng viên tương tự người lao động nói chung trong các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, hoặc chỉ tiếp cận thuần túy theo góc độ giáo dục học; chưa có công trình kết hợp đồng thời cả hai hướng tiếp cận này.
- Tại Việt Nam, các nghiên cứu tâm lý học xã hội về gắn kết với tổ chức trong môi trường giáo dục đại học, cao đẳng còn thiếu tính hệ thống.
- Các công trình trong nước chủ yếu khảo sát yếu tố khách quan thuộc môi trường làm việc (lương thưởng, thăng tiến, điều kiện làm việc, đồng nghiệp, văn hóa nhà trường) và một số đặc điểm nhân khẩu, nhưng chưa chú trọng phân tích tác động của các đặc điểm nhân cách theo mô hình Năm nhân tố lớn (Big Five Factors).
- Mối liên hệ giữa sự gắn kết của giảng viên với nhận thức về danh tiếng của nhà trường và phong cách lãnh đạo chuyển hóa của cán bộ quản lý trực tiếp (cấp khoa/bộ môn) chưa được đi sâu kiểm chứng thực nghiệm.
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về gắn kết của giảng viên với tổ chức, làm rõ các yếu tố ảnh hưởng; trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị đối với giảng viên, cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng và các cơ quan hoạch định chính sách nhằm nâng cao mức độ gắn kết của giảng viên.
Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Luận án xây dựng 03 giả thuyết nghiên cứu chính:
- Giả thuyết 1: Phần lớn giảng viên có gắn kết với tổ chức và gắn kết ở cả ba thành phần được nghiên cứu là gắn kết tình cảm, gắn kết trách nhiệm và gắn kết nhu cầu lợi ích.
- Giả thuyết 2: Tồn tại nhiều hình thức gắn kết với tổ chức khác nhau dựa trên sự kết hợp các thành phần gắn kết với tổ chức và thành phần gắn kết chiếm ưu thế hơn.
- Giả thuyết 3: Đặc điểm nhân cách của giảng viên, phong cách lãnh đạo của trưởng khoa, danh tiếng nhà trường, đặc điểm công việc, chế độ chính sách, cơ hội đào tạo - thăng tiến và mối quan hệ đồng nghiệp có mối tương quan và ảnh hưởng đến sự gắn kết với tổ chức của giảng viên.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án xác định hai nhóm nhiệm vụ cụ thể:
- 5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận: Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước; làm sáng tỏ các khái niệm công cụ (gắn kết, gắn kết với tổ chức, gắn kết với tổ chức của giảng viên, các biểu hiện, hình thức gắn kết và các yếu tố ảnh hưởng); xây dựng khung lý thuyết và bộ công cụ đo lường.
- 5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát thực trạng mức độ gắn kết chung và theo từng thành phần (tình cảm, trách nhiệm, nhu cầu lợi ích); nhận diện các hình thức gắn kết hỗn hợp; đo lường mức độ tác động của đặc điểm nhân cách và các yếu tố thuộc về tổ chức; đề xuất kiến nghị nâng cao mức độ gắn kết.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện, mức độ gắn kết với tổ chức của giảng viên và các yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết với tổ chức của giảng viên các trường đại học, cao đẳng.
- Khách thể nghiên cứu: 560 giảng viên và cán bộ quản lý (ban giám hiệu, lãnh đạo cấp khoa/bộ môn) tham gia trả lời bảng hỏi và phỏng vấn sâu.
- Phạm vi nội dung: Gắn kết với tổ chức được định nghĩa là hiện tượng tâm lý phản ánh mối liên hệ của cá nhân với tổ chức trên các khía cạnh tình cảm, trách nhiệm và nhu cầu lợi ích, không tiếp cận dưới góc độ cam kết pháp lý của hợp đồng lao động. Các yếu tố ảnh hưởng được phân tích tập trung vào: đặc điểm nhân cách, phong cách lãnh đạo chuyển hóa của trưởng khoa/bộ môn, danh tiếng nhà trường, đặc điểm công việc, chế độ chính sách, cơ hội đào tạo - thăng tiến, mối quan hệ đồng nghiệp.
- Phạm vi không gian: 10 trường đại học, cao đẳng công lập thuộc ba địa bàn tại miền Bắc:
- Tỉnh Tuyên Quang: Trường Đại học Tân Trào (01 trường).
- Thành phố Hà Nội: Trường Đại học Công Đoàn, Trường Cao đẳng Sư phạm Trung Ương, Trường Cao đẳng Công trình đô thị, Trường Cao đẳng Nghề công nghiệp Hà Nội (04 trường).
- Tỉnh Thái Bình: Trường Đại học Thái Bình, Trường Đại học Y Dược Thái Bình, Trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, Trường Cao đẳng Y tế Thái Bình, Trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Thái Bình (05 trường).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu về gắn kết với tổ chức trên thế giới và ở Việt Nam
Tổng quan lịch sử nghiên cứu quốc tế do WeiBo và cộng sự (2010) tổng kết chỉ ra 04 giai đoạn phát triển của lý thuyết gắn kết với tổ chức:
- Giai đoạn đặt cược phụ (Side-bet theory): Khởi xướng bởi Becker (1960), xem gắn kết là sự đánh đổi kinh tế và lợi ích tích lũy; người lao động duy trì tư cách thành viên vì những mất mát và chi phí phát sinh nếu rời bỏ tổ chức.
- Giai đoạn phụ thuộc cảm xúc: Porter và cộng sự (1974) chuyển trọng tâm sang khía cạnh tâm lý và thái độ, định nghĩa gắn kết là sự đồng nhất cá nhân và tham gia tích cực, bao gồm sự chấp nhận mục tiêu, sẵn sàng nỗ lực và lòng trung thành.
- Giai đoạn nghiên cứu đa chiều: O'Reilly và Chatman (1986), Meyer và Allen (1984, 1990) phát triển mô hình đa thành phần. Meyer và Allen (1984) ban đầu đưa ra hai thành phần (gắn kết tình cảm và gắn kết lợi ích), sau đó Allen và Meyer (1990) bổ sung thành phần gắn kết chuẩn mực/trách nhiệm để hoàn thiện mô hình 3 thành phần.
- Giai đoạn lý thuyết kết hợp: Cohen (2007) và Somers (2009) tái cấu trúc mô hình gắn kết dựa trên chiều thời gian (trước và sau khi gia nhập tổ chức) và bản chất gắn kết (công cụ/lợi ích và đạo đức/tình cảm).
Về các yếu tố tiền đề và hệ quả, các tác giả quốc tế như Baugh và Roberts (1994), Meyer và cộng sự (2002), Abdullah và Ramay (2012) phân tích mối quan hệ giữa gắn kết với hiệu suất công việc, sự an toàn nghề nghiệp, xung đột gia đình - công việc và ý định nghỉ việc (Shore & Martin, 1989). Nghiên cứu về nhân cách và gắn kết được triển khai bởi Erdheim và cộng sự (2006) trên nhân viên nhà máy ô tô tại Mỹ, chứng minh tính hướng ngoại tương quan thuận với cả ba thành phần gắn kết; sự tận tâm liên hệ thuận với gắn kết chuẩn mực; tính dễ chấp nhận liên hệ tích cực với gắn kết đạo đức. Abdullah, Omar và Rashid (2013) nghiên cứu mối liên hệ giữa nhân cách và hiệu suất làm việc của nhân viên ngân hàng tại Pakistan.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu tập trung vào khối doanh nghiệp và hành chính công:
- Trần Kim Dung và Morris (2005) áp dụng thang đo của Mowday, thay thế thành phần đồng nhất bằng lòng tự hào, yêu mến tổ chức; chỉ ra gắn kết chịu ảnh hưởng bởi 5 khía cạnh thỏa mãn công việc (bản thân công việc, tiền lương, đồng nghiệp, giám sát, thăng tiến).
- Hồ Huy Tựu và Phạm Hồng Liêm (2012) đo lường gắn kết qua nỗ lực, tự hào, trung thành trong ngành du lịch.
- Đỗ Phú Trần Tình, Nguyễn Văn Nên và Nguyễn Thị Diệu Hiền (2012) khảo sát lao động trẻ tại TP.HCM, kết luận cơ hội thăng tiến và phúc lợi tác động mạnh nhất đến sự gắn bó lâu dài, trong khi thu nhập không phải biến số quyết định.
- Phạm Thế Anh và Nguyễn Thị Hồng Đào (2013) phân tích quản trị nhân lực và gắn kết tại Công ty CP Đông Á.
- Lê An Khang (2013) nghiên cứu phong cách lãnh đạo chuyển đổi và sự tín nhiệm tại TP.HCM.
- Lê Thị Minh Loan và Nguyễn Thị Oanh (2016), M (2017) chứng minh nhận thức về sự hỗ trợ của tổ chức (đặc biệt là bảo hiểm, phúc lợi) có tác động mạnh hơn phong cách lãnh đạo chuyển hóa đến gắn kết cảm xúc.
- Trần Thị Minh Đức và Bùi Thị Hồng Thái (2017) khảo sát gắn kết công việc của lao động trẻ qua ba khía cạnh: sức mạnh dành cho công việc, sự cống hiến và sự say mê; phát hiện người có thu nhập cao hơn và làm quản lý có điểm gắn kết cao hơn.
- Lê Thị Minh Loan (2018) nghiên cứu người lao động tại các khu công nghiệp, khẳng định thái độ lãnh đạo và thu nhập giải thích nhiều nhất sự biến thiên của cả ba thành phần gắn kết.
Các hướng nghiên cứu về gắn kết với tổ chức của giảng viên
Các công trình chuyên sâu về giảng viên được phân chia thành ba nhóm hướng nghiên cứu chính:
- Hướng nghiên cứu gắn kết liên quan đến đặc điểm cá nhân và nhân cách:
- Raymond (1964) và Crosswell (2006) dùng phân tích định tính và chân dung điển hình để chỉ ra đặc trưng của giáo viên gắn kết: mong muốn dạy tốt, chấp nhận giá trị cá nhân của học sinh, đam mê nghề nghiệp, đầu tư thời gian ngoài giờ làm việc ("thời gian vô hình"), duy trì chuyên môn và gắn bó với cộng đồng trường học.
- Các biến nhân khẩu được kiểm chứng bởi Chughtai và Zafar (2006) tại 33 trường đại học Pakistan (không thấy mối liên hệ của tuổi, hôn nhân, chức vụ); Brown và cộng sự (2007) ghi nhận nhóm tuổi trên 46, có học vị tiến sĩ, thâm niên cao gắn kết hơn; Razak và cộng sự (2009) phân tích giới tính, dân tộc, học vấn; Khan (2013) phát hiện nam giảng viên và người đã kết hôn tại Pakistan gắn kết hơn do gánh nặng gia đình.
- Theo mô hình Big Five: Sadeghi và Yazdanbakhsh (2014) chỉ ra tính nhạy cảm tương quan nghịch với gắn kết, trong khi hướng ngoại, tận tâm, dễ chấp nhận tương quan thuận. Syed và cộng sự (2015) khảo sát đại học công lập tại Lahore cho thấy nhạy cảm tương quan nghịch với gắn kết tình cảm và chuẩn mực nhưng tương quan thuận với gắn kết lợi ích. Izzati và cộng sự (2015) xác định tính dễ chấp nhận và tận tâm dự báo gắn kết tình cảm tại Indonesia. Khiavi và cộng sự (2016) tại Đại học Ahvaz Jundishapur (Iran) chứng minh tính sẵn sàng trải nghiệm và dễ chấp nhận có ảnh hưởng lớn nhất. Idrus và Mukminin (2016) khẳng định sự tận tâm và dễ chấp nhận tác động trực tiếp đến gắn kết của giảng viên tại Đại học Jambi.
- Hướng nghiên cứu các yếu tố khách quan và hệ quả: Darling-Hammond (2000), Ingersoll (2001), Kahn (1990), Malik và cộng sự (2010), Karakuş và Savas (2011) về sự trao quyền; Lawrence và cộng sự (2012) khảo sát 4.550 trưởng khoa tại 15 trường đại học; Haim Gaziel (2009) so sánh trường tự quản và truyền thống tại Israel. Tại Việt Nam, Võ Quốc Hưng và Cao Hào Thi (2009) xác định 8 yếu tố tác động đến dự định nghỉ việc của công chức; Trần Minh Hiếu (2013), Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Khánh Trang (2013) chỉ ra đặc điểm công việc và đồng nghiệp giữ chân giảng viên; Võ Văn Việt (2015) nghiên cứu giảng viên Đại học Nông Lâm TP.HCM, kết luận sự hài lòng tương quan thuận với gắn kết tình cảm và chuẩn mực, nhưng không tương quan với gắn kết lợi ích.
- Hướng nghiên cứu gắn kết trong hoạt động nghề nghiệp: Blau (1985), Meyer và cộng sự (1998), Celep (2000), Louis (1998), Rosenholtz (1989), Thien và Razak (2012) phân định gắn kết với chuyên môn, gắn kết với việc giảng dạy, gắn kết với sinh viên và gắn kết với đồng nghiệp.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án giải quyết khoảng trống thực nghiệm tại Việt Nam bằng cách:
- Nghiên cứu có hệ thống gắn kết của giảng viên dưới góc độ tâm lý học xã hội, tích hợp mô hình gắn kết tổ chức chung với đặc thù nghề nghiệp sư phạm đại học.
- Đánh giá vai trò của đặc điểm nhân cách (5 nhân tố lớn) đối với từng thành phần gắn kết trong bối cảnh văn hóa Việt Nam.
- Kiểm định ảnh hưởng của nhận thức về danh tiếng nhà trường và phong cách lãnh đạo chuyển hóa của trưởng khoa/bộ môn tới mức độ gắn kết của giảng viên.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và các khái niệm công cụ
- Khái niệm gắn kết: Luận án định nghĩa gắn kết là sự liên hệ về mặt tâm lý của cá nhân với một đối tượng nào đó, biểu hiện ở tình cảm, trách nhiệm và nhu cầu lợi ích.
- Khái niệm tổ chức và trường đại học, cao đẳng: Kế thừa định nghĩa của Nguyễn Hữu Thụ (2016) và Luật Giáo dục Đại học (2012), luận án xác định trường đại học, cao đẳng là dạng đặc thù của nhóm xã hội chính thức, có hệ thống đơn vị trực thuộc (khoa, phòng, ban, bộ môn), liên kết với nhau bởi mục tiêu chung, có phân công lao động, quản lý và điều hành nhằm thực hiện nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng.
- Giảng viên và hoạt động nghề nghiệp: Tiếp cận theo Luật Giáo dục Đại học 2012 và quan điểm của Vũ Thế Dũng, giảng viên đảm nhiệm 3 chức năng: nhà giáo, nhà khoa học và nhà cung ứng dịch vụ cộng đồng.
- Cấu trúc 3 thành phần gắn kết với tổ chức của giảng viên:
- Gắn kết tình cảm (GKTC): Mức độ gắn bó cảm xúc, sự đồng nhất và sự tham gia tích cực của giảng viên vào mục tiêu, giá trị của nhà trường.
- Gắn kết trách nhiệm (GKTN): Ý thức nghĩa vụ, bổn phận đạo đức nghề nghiệp phải ở lại và cống hiến cho nhà trường.
- Gắn kết nhu cầu lợi ích (GKNCLI): Sự gắn bó dựa trên nhận thức về lợi ích kinh tế, chế độ đãi ngộ và chi phí mất mát nếu rời bỏ cơ sở đào tạo.
- Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng:
- Yếu tố chủ quan: 5 mặt nhân cách (Big Five: Hướng ngoại, Dễ chấp nhận, Tận tâm, Sẵn sàng trải nghiệm, Nhạy cảm).
- Yếu tố khách quan/tổ chức: Phong cách lãnh đạo chuyển hóa của trưởng khoa/bộ môn, chế độ chính sách, cơ hội đào tạo - thăng tiến, danh tiếng nhà trường, đặc điểm công việc, mối quan hệ đồng nghiệp.
Nguyên tắc phương pháp luận
Luận án vận dụng 03 nguyên tắc phương pháp luận tâm lý học:
- Nguyên tắc tiếp cận liên ngành: Xem xét hiện tượng tâm lý gắn kết trong mối quan hệ giao thoa giữa tâm lý học, xã hội học và khoa học quản lý.
- Nguyên tắc tiếp cận hoạt động: Gắn kết được nghiên cứu qua các hoạt động nghề nghiệp thực tế của giảng viên (giảng dạy, nghiên cứu khoa học, hoạt động đoàn thể, tương tác xã hội).
- Nguyên tắc tiếp cận hệ thống: Đặt sự gắn kết trong mối tương tác đa chiều giữa các yếu tố chủ quan (nhân cách, nhân khẩu) và khách quan (môi trường quản lý, chính sách, danh tiếng tổ chức).
Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu: Phân tích, tổng hợp các văn bản pháp quy và tài liệu khoa học để xây dựng cơ sở lý luận.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Công cụ thu thập dữ liệu chính thức từ 560 khách thể; kế thừa thang đo của Allen và Meyer (1996), Cohen (2007), Kadyschuck (1997), Celep (2000), Klassen (2013), Thien và cộng sự (2012).
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thu thập thông tin định tính từ cán bộ quản lý cấp trường, cấp khoa/bộ môn và giảng viên.
- Phương pháp phân tích chân dung tâm lý: Khắc họa hành vi, thái độ của các trường hợp điển hình.
- Phương pháp xử lý số liệu: Thực hiện trên phần mềm SPSS 22.0 và AMOS 22.0:
- Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha.
- Phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích nhân tố khẳng định (CFA).
- Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM).
- Thống kê mô tả: điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn (ĐLC), trung vị, phân vị 10.
| Chỉ số mẫu nghiên cứu |
Đặc điểm phân bố trong mẫu thực tế |
| Tổng quy mô mẫu |
560 giảng viên và cán bộ quản lý |
| Địa bàn khảo sát |
03 tỉnh, thành phố (Tuyên Quang, Hà Nội, Thái Bình) |
| Số lượng cơ sở đào tạo |
10 trường công lập (ĐH Tân Trào, ĐH Công Đoàn, CĐ Sư phạm Trung Ương, CĐ Công trình đô thị, CĐ Nghề CN Hà Nội, ĐH Thái Bình, ĐH Y Dược Thái Bình, CĐSP Thái Bình, CĐ Y tế Thái Bình, CĐ VHNT Thái Bình) |
| Công cụ xử lý dữ liệu |
SPSS phiên bản 22.0 và AMOS phiên bản 22.0 |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về gắn kết với tổ chức của giảng viên các trường đại học, cao đẳng
Chương này hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu gắn kết với tổ chức qua 4 giai đoạn lý thuyết trên thế giới. Tác giả phân tích các nghiên cứu trong nước về sự gắn bó của người lao động trong doanh nghiệp và cơ quan hành chính nhà nước. Tiếp đó, chương tập trung phân loại các công trình về giảng viên thành ba hướng: hướng nghiên cứu đặc điểm cá nhân và nhân cách (sử dụng mô hình Big Five); hướng nghiên cứu các yếu tố môi trường làm việc, lãnh đạo và hệ quả; hướng nghiên cứu gắn kết trong hoạt động nghề nghiệp (chuyên môn, sinh viên, đồng nghiệp, nhà trường). Tác giả xác định rõ khoảng trống: tại Việt Nam chưa có nghiên cứu hệ thống về ảnh hưởng của 5 mặt nhân cách, danh tiếng nhà trường và phong cách lãnh đạo chuyển hóa của trưởng khoa/bộ môn đến sự gắn kết của giảng viên.
Chương 2: Cơ sở lý luận nghiên cứu về gắn kết với tổ chức của giảng viên các trường đại học, cao đẳng
Chương 2 thiết lập khung khái niệm công cụ:
- Định nghĩa gắn kết, tổ chức, trường đại học - cao đẳng công lập, giảng viên và hoạt động nghề nghiệp của giảng viên.
- Xác lập bản chất gắn kết với tổ chức của giảng viên theo mô hình ba thành phần: Gắn kết tình cảm (GKTC), Gắn kết trách nhiệm (GKTN) và Gắn kết nhu cầu lợi ích (GKNCLI).
- Luận giải cơ chế tác động của các yếu tố thuộc về cá nhân (5 mặt nhân cách: Hướng ngoại, Dễ chấp nhận, Tận tâm, Sẵn sàng trải nghiệm, Nhạy cảm) và các yếu tố thuộc về tổ chức (phong cách lãnh đạo chuyển hóa của trưởng khoa/bộ môn, đặc điểm công việc, mối quan hệ đồng nghiệp, chế độ chính sách, đào tạo - thăng tiến, danh tiếng nhà trường).
Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày quy trình triển khai nghiên cứu qua 3 giai đoạn:
- Giai đoạn nghiên cứu lý luận: Xây dựng khung lý thuyết, công cụ đo lường và hệ thống chỉ báo.
- Giai đoạn nghiên cứu thực tiễn: Điều tra thử nghiệm, hoàn thiện bảng hỏi, tiến hành khảo sát chính thức trên 560 giảng viên tại 10 trường đại học, cao đẳng ở Tuyên Quang, Hà Nội, Thái Bình; tiến hành phỏng vấn sâu.
- Giai đoạn viết và hoàn thành luận án: Nhập liệu, làm sạch số liệu, kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích nhân tố khẳng định CFA, phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM và phân tích chân dung tâm lý.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về gắn kết với tổ chức của giảng viên các trường đại học, cao đẳng
Chương 4 trình bày các phát hiện thực nghiệm chính:
- Thực trạng mức độ gắn kết: Đại đa số giảng viên tự đánh giá có gắn kết với tổ chức nhưng ở mức độ thấp. Xét riêng biệt từng thành phần (gắn kết tình cảm, gắn kết trách nhiệm, gắn kết nhu cầu lợi ích), điểm đánh giá của giảng viên đều ở mức độ thấp theo thang đo phân vị.
- Hình thức gắn kết hỗn hợp: Dựa trên sự kết hợp ba thành phần và thành phần chiếm ưu thế, tác giả phân chia thành 08 hình thức gắn kết hỗn hợp. Tỷ lệ giảng viên phân bố tập trung chủ yếu vào hai hình thức:
- Gắn kết chiếm ưu thế ở cả ba thành phần.
- Gắn kết không chiếm ưu thế ở cả ba thành phần.
- Tác động của các yếu tố chủ quan (nhân cách): Kết quả phân tích SEM khẳng định 5 mặt nhân cách có mối liên hệ với gắn kết với tổ chức của giảng viên. Trong đó, mặt hướng ngoại là yếu tố chủ quan có ảnh hưởng mạnh nhất đến mức độ gắn kết chung và các thành phần gắn kết.
- Tác động của các yếu tố khách quan (tổ chức): Kết quả mô hình SEM chỉ ra yếu tố khách quan có ảnh hưởng nhiều nhất đến sự gắn kết của giảng viên là chế độ chính sách (lương, thưởng, phúc lợi, đãi ngộ). Tiếp theo là phong cách lãnh đạo chuyển hóa của trưởng khoa/bộ môn, nhận thức về danh tiếng nhà trường, cơ hội đào tạo - thăng tiến, đặc điểm công việc và mối quan hệ đồng nghiệp.
- Phân tích trường hợp điển hình: Dữ liệu phỏng vấn sâu và phân tích chân dung tâm lý làm sáng tỏ động cơ làm việc, rào cản tâm lý và nguyên nhân dẫn đến mức độ gắn kết thấp ở từng nhóm giảng viên cụ thể.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và cập nhật cơ sở lý luận về gắn kết với tổ chức của người lao động nói chung và giảng viên đại học, cao đẳng nói riêng trên thế giới và tại Việt Nam.
- Khẳng định cấu trúc lý thuyết ba thành phần gắn kết với tổ chức của Allen và Meyer (1996) phù hợp khi vận dụng nghiên cứu trên khách thể giảng viên đại học, cao đẳng Việt Nam; đồng thời bổ sung các biểu hiện đặc thù phản ánh hoạt động chuyên môn sư phạm và môi trường giáo dục đại học.
- Chứng minh tính không đồng nhất giữa ba thành phần gắn kết (tình cảm, trách nhiệm, nhu cầu lợi ích) trong mỗi cá nhân giảng viên, tạo cơ sở phân loại các hình thức gắn kết đa diện.
- Xác định mô hình các yếu tố ảnh hưởng gồm 5 mặt nhân cách và 6 yếu tố môi trường tổ chức (chế độ chính sách, phong cách lãnh đạo chuyển hóa, danh tiếng nhà trường, đào tạo - thăng tiến, đặc điểm công việc, mối quan hệ đồng nghiệp).
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh thực nghiệm về thực trạng gắn kết với tổ chức của đội ngũ giảng viên tại một số trường đại học, cao đẳng công lập phía Bắc; chỉ ra rằng mức độ gắn kết của đại đa số giảng viên hiện nay ở mức độ thấp trên cả 3 thành phần.
- Phát hiện và mô tả 08 hình thức gắn kết hỗn hợp dựa trên sự kết hợp các thành phần, trong đó giảng viên tập trung nhiều nhất ở hai hình thức cực đoan: chiếm ưu thế ở cả 3 thành phần hoặc không chiếm ưu thế ở cả 3 thành phần.
- Xác định rõ hai yếu tố có tác động chi phối mạnh nhất:
- Yếu tố khách quan tác động mạnh nhất: Chế độ chính sách.
- Yếu tố chủ quan tác động mạnh nhất: Mặt hướng ngoại của nhân cách.
- Cung cấp tài liệu tham khảo khoa học cho các nhà nghiên cứu tâm lý học, ban giám hiệu và cán bộ quản lý cấp khoa/bộ môn trong việc nắm bắt tâm lý, nhu cầu của giảng viên.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với nhà trường và cơ quan quản lý:
- Cải tiến và thực hiện minh bạch chế độ chính sách, tiền lương, phụ cấp và các phúc lợi liên quan nhằm đáp ứng nhu cầu lợi ích chính đáng của giảng viên.
- Bồi dưỡng phong cách lãnh đạo chuyển hóa cho đội ngũ cán bộ quản lý cấp khoa/bộ môn để tạo động lực, sự truyền cảm hứng và sự gắn bó cảm xúc cho cấp dưới.
- Xây dựng và củng cố danh tiếng, vị thế xã hội của nhà trường nhằm nâng cao lòng tự hào nghề nghiệp của giảng viên.
- Hoàn thiện cơ chế đào tạo, quy hoạch bồi dưỡng và tạo lộ trình thăng tiến rõ ràng; cải thiện điều kiện làm việc và tăng cường sự hỗ trợ từ đồng nghiệp.
- Đối với giảng viên: Chủ động phát huy các nét nhân cách tích cực (tính hướng ngoại, tận tâm, dễ chấp nhận), tích cực tham gia các hoạt động chuyên môn và đoàn thể để gia tăng sự tương tác và gắn kết với đơn vị.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Khách thể nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện gồm 560 giảng viên tại 10 trường công lập thuộc 3 tỉnh, thành phố miền Bắc (Tuyên Quang, Hà Nội, Thái Bình), do đó khả năng khái quát hóa kết quả cho toàn bộ hệ thống giáo dục đại học, cao đẳng trên phạm vi toàn quốc còn hạn chế.
- Nghiên cứu giới hạn trong phạm vi các trường công lập, chưa khảo sát đối chứng tại khối trường đại học, cao đẳng ngoài công lập (dân lập, tư thục) hoặc các cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài.
- Các yếu tố ảnh hưởng mới chỉ tập trung vào 5 mặt nhân cách và 6 yếu tố tổ chức định trước, chưa bao quát toàn bộ các biến số tiềm năng khác trong môi trường giáo dục đại học.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng quy mô và địa bàn nghiên cứu sang các tỉnh, thành phố thuộc miền Trung và miền Nam, áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng để tăng tính đại diện.
- Thực hiện các nghiên cứu so sánh đối chứng giữa khối trường công lập và ngoài công lập, giữa các khối ngành đào tạo (khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, kỹ thuật, y dược).
- Khảo sát sâu hơn các biến trung gian hoặc biến điều tiết trong mô hình cấu trúc tuyến tính tác động đến mối quan hệ giữa nhân cách, yếu tố tổ chức và sự gắn kết.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Tâm lý học, Quản lý giáo dục, Quản trị nhân lực: Tham khảo khung lý thuyết tích hợp về gắn kết tổ chức trong giáo dục; quy trình xây dựng và chuẩn hóa bộ công cụ đo lường (kiểm định Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố EFA, CFA và mô hình hóa cấu trúc tuyến tính SEM).
- Ban giám hiệu, cán bộ quản lý cấp khoa/phòng/bộ môn các trường đại học, cao đẳng: Sử dụng kết quả nghiên cứu để nhận diện thực trạng mức độ gắn bó của đội ngũ cán bộ; điều chỉnh chính sách đãi ngộ, cải cách công tác thi đua khen thưởng và đào tạo kỹ năng lãnh đạo chuyển hóa nhằm hạn chế tình trạng chuyển công tác của giảng viên trình độ cao.
- Các nhà hoạch định chính sách giáo dục: Căn cứ vào số liệu về tác động của chế độ chính sách và danh tiếng cơ sở đào tạo để xây dựng các chính sách phát triển nguồn nhân lực giảng viên và hoàn thiện cơ chế tự chủ đại học.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định cấu trúc gắn kết với tổ chức của giảng viên gồm những thành phần nào?
Luận án kế thừa mô hình của Allen và Meyer (1996) và Cohen (2007), xác định gắn kết với tổ chức của giảng viên gồm 03 thành phần:
- Gắn kết tình cảm (GKTC): Sự gắn bó về cảm xúc, đồng nhất mục tiêu và tham gia vào hoạt động nhà trường.
- Gắn kết trách nhiệm (GKTN): Ý thức nghĩa vụ, bổn phận đạo đức nghề nghiệp đối với tổ chức.
- Gắn kết nhu cầu lợi ích (GKNCLI): Sự gắn bó xuất phát từ nhận thức về quyền lợi kinh tế, an toàn công việc và chi phí mất mát nếu thôi việc.
2. Thực trạng mức độ gắn kết với tổ chức của giảng viên trong mẫu khảo sát đạt mức nào?
Kết quả xử lý số liệu khảo sát trên 560 giảng viên tại 10 trường đại học, cao đẳng cho thấy đại đa số giảng viên tự đánh giá mức độ gắn kết với tổ chức ở mức thấp. Khi đánh giá riêng rẽ từng thành phần gắn kết tình cảm, gắn kết trách nhiệm và gắn kết nhu cầu lợi ích, điểm số cũng đều thuộc mức thấp theo thang phân vị.
3. Sự kết hợp giữa ba thành phần gắn kết tạo nên những hình thức gắn kết nào?
Dựa trên sự kết hợp ba thành phần và mức độ chiếm ưu thế của từng thành phần, luận án chỉ ra 08 hình thức gắn kết hỗn hợp. Tỷ lệ giảng viên tập trung nhiều nhất ở hai hình thức:
- Gắn kết chiếm ưu thế ở cả ba thành phần (tình cảm, trách nhiệm, nhu cầu lợi ích).
- Gắn kết không chiếm ưu thế ở cả ba thành phần.
4. Yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan nào ảnh hưởng mạnh nhất đến gắn kết của giảng viên?
Theo kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM:
- Yếu tố khách quan có ảnh hưởng nhiều nhất: Chế độ chính sách (tiền lương, thưởng, phúc lợi, đãi ngộ của nhà trường).
- Yếu tố chủ quan có ảnh hưởng nhiều nhất: Mặt hướng ngoại trong mô hình 5 nhân tố nhân cách.
5. Địa bàn và khách thể khảo sát thực tế của luận án được thực hiện ở đâu?
Khảo sát thực tiễn được tiến hành trên 560 giảng viên và cán bộ quản lý thuộc 10 trường công lập tại ba địa phương phía Bắc:
- Tuyên Quang (01 trường): Đại học Tân Trào.
- Hà Nội (04 trường): Đại học Công Đoàn, Cao đẳng Sư phạm Trung Ương, Cao đẳng Công trình đô thị, Cao đẳng Nghề công nghiệp Hà Nội.
- Thái Bình (05 trường): Đại học Thái Bình, Đại học Y Dược Thái Bình, Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, Cao đẳng Y tế Thái Bình, Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Thái Bình.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Thị Hồng Phương đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về gắn kết với tổ chức của giảng viên các trường đại học, cao đẳng công lập tại Việt Nam dưới góc độ tâm lý học xã hội. Dựa trên dữ liệu khảo sát 560 giảng viên tại 10 cơ sở đào tạo, công trình chỉ ra thực trạng mức độ gắn kết của đại đa số giảng viên hiện ở mức thấp trên cả ba thành phần (tình cảm, trách nhiệm, nhu cầu lợi ích) và phân bố tập trung ở hai nhóm hình thức hỗn hợp chiếm ưu thế hoặc không chiếm ưu thế toàn diện. Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM chứng minh chế độ chính sách là yếu tố khách quan tác động mạnh nhất, trong khi tính hướng ngoại là yếu tố chủ quan chi phối lớn nhất đến sự gắn kết của giảng viên. Các kết quả và kiến nghị trong luận án cung cấp căn cứ thực nghiệm phục vụ công tác quản trị nhân sự, xây dựng chính sách đãi ngộ và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trong hệ thống giáo dục đại học, cao đẳng.