Chương 1: Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu, lý do thực hiện nghiên cứu, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chương 2: Trình bày tổng quan về lý thuyết đồng thời chương này cũng trình bày những nghiên cứu thực nghiệm trước đây về mối quan hệ giữa FDI, xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế. Chương 3: Mô tả dữ liệu và các phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Trình bày các kết quả chính.
Chương 5: Nhấn mạnh những kết luận quan trọng từ đề tài nghiên cứu, đồng thời nêu lên những hạn chế và gơi ý đề tài mở rộng chuyên sâu hơn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2 MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI, XUẤT KHẨU VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 2.1 Cơ sở lý thuyết Tăng trưởng kinh tế được diễn đạt thông qua các mô hình tăng trưởng kinh tế tiêu biểu như: Lý thuyết về mô hình tăng trưởng cổ điển, mô hình tăng trưởng của Keynes, mô hình tân cổ điển và mới nhất là mô hình tăng trưởng nội sinh ở cuối thế kỷ XX.1 Lý thuyết cổ điển Đại diện tiêu biểu nhất của lý thuyết cổ điển về thương mại quốc tế chính là lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith và lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo. Các lý thuyết này nhấn mạnh vai trò của chuyên môn hóa sản xuất, lợi thế so sánh và hiệu quả sản xuất trong hoạt động thương mại quốc tế. Adam Smith là nhà kinh tế học đầu tiên đưa ra những lập luận và cơ sở giải thích cho sự ra đời của trao đổi và thương mại quốc tế.
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối được Adam Smith khởi xướng trong tác phẩm nổi tiếng “Của cải của các dân tộc (The Wealth of Nations)” được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1776. Theo ông, các nước nên chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm mà mình có lợi thế tuyệt đối. Chuyên môn hóa sẽ giúp tăng năng suất và do đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Khi đó, tất cả các quốc gia đều có lợi ích từ trao đổi thương mại quốc tế.
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối không chỉ giúp mô tả hướng chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi giữa các quốc gia, mà còn được coi là các công cụ để các quốc gia tăng phúc lợi. Mô hình thương mại này có thể giúp giải thích được một phần của thương mại quốc tế, tuy nhiên vẫn chưa giải thích được lý do tại sao thương mại quốc tế vẫn có thể diễn ra khi một nước hoàn toàn không có lợi thế tuyệt đối đối với mọi mặt hàng. Năm 1817, David Ricardo đã đưa ra lý thuyết lợi thế tương đối giúp củng cố thêm những luận điểm về tác động của thương mại quốc tế, trong đó có xuất khẩu, tới thu nhập của các quốc gia, đồng thời khắc phục một phần hạn chế của lý thuyết lợi thế tuyệt đối. Ông cho rằng, một quốc gia thậm chí sản xuất tất cả các sản phẩm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 đều kém hiệu quả hơn quốc gia kia, họ vẫn có thể thu được lợi ích từ thương mại.
Mỗi quốc gia sẽ chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà mình có lợi thế tương đối. Lợi thế tương đối trong sản xuất sản phẩm của một quốc gia thể hiện ở hiệu quả sản xuất cao tương đối hay giá cả sản xuất thấp hơn tương đối so với quốc gia kia. Nhờ vậy, lợi thế từ chuyên môn hóa được khai thác triệt để hơn cũng như có thể tạo ra mức sản lượng lớn hơn so với khi chưa có thương mại quốc tế và kết quả là tăng trưởng kinh tế sẽ cao hơn. Mặt khác, tăng trưởng kinh tế sẽ giúp các ngành xuất khẩu khai thác lợi thế kinh tế theo qui mô, tăng năng suất và giảm chi phí, cải thiện năng lực cạnh tranh quốc tế của hàng xuất khẩu và qua đó giúp thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu.2 Lý thuyết trọng cầu (mô hình tăng trưởng của trường phái Keynes) Lý thuyết kinh tế của Keynes được coi là lý thuyết trọng cầu vì ông đánh giá cao vai trò của tiêu dùng và trao đổi, coi tiêu dùng và trao đổi là nhiệm vụ số một mà nhà kinh tế học phải giải quyết.
Theo ông, nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp và trì trệ trong nền kinh tế là do cầu tiêu dùng giảm, do đó cầu có hiệu quả giảm (tiêu dùng tăng chậm hơn mức tăng thu nhập do khuynh hướng tiết kiệm, ưa chuộng tiền mặt,… vì thế cầu tiêu dùng giảm và do đó cầu có hiệu quả giảm). Do đó, cần nâng cầu tiêu dùng, kích thích cầu có hiệu quả. Theo đó, gia tăng xuất khẩu là một trong những nhân tố có thể thúc đẩy tăng tổng cầu và vì vậy sẽ chắc chắn dẫn đến tăng sản lượng. Trong mô hình này, tổng cầu dịch chuyển theo những thay đổi của xuất khẩu sẽ có ảnh hưởng khuếch đại đến sản lượng qua hiệu ứng số nhân, tương tự như tác động của đầu tư tới tăng trưởng sản lượng.
Quan điểm này tiếp tục được phát triển thành những mô hình lý thuyết mới nhằm phân tích mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế. Thirlwall (1979) xây dựng mô hình tăng trưởng ràng buộc bởi cán cân thanh toán (Balance of Payments Constrained Growth Model) dựa trên lập luận rằng: ràng buộc chủ yếu của tổng cầu ở các nền kinh tế mở là cán cân thanh toán. Nếu cán cân thanh toán của một quốc gia ở trong tình trạng xấu thì tổng cầu sẽ bị cắt giảm, khi đó nguồn cung không được sử TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 dụng một cách đầy đủ, không thu hút được đầu tư, công nghệ chậm phát triển, hàng hóa sản xuất trong nước sẽ trở nên kém hấp dẫn hơn so với hàng hóa nước ngoài, do đó, tiếp tục làm cán cân thanh toán trở nên xấu hơn. Cứ như vậy, quá trình này lại tái diễn thành một vòng luẩn quẩn.
Ngược lại, khi cán cân thanh toán được cải thiện sẽ giúp mở rộng tổng cầu, theo đó sẽ kích thích đầu tư, tăng vốn và thúc đẩy tiến bộ công nghệ, tạo thêm nhiều việc làm, các yếu tố sản xuất sẽ dịch chuyển từ khu vực kém hiệu quả sang khu vực hiệu quả hơn…, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Từ lập luận đó, Thirlwall chỉ ra rằng không có quốc gia nào tăng trưởng nhanh hơn tốc độ tăng khi ở trạng thái cân bằng của cán cân thanh toán. Điều này ngụ ý rằng tăng trưởng kinh tế bị ràng buộc bởi trạng thái cân bằng của cán cân thanh toán. Khi xuất khẩu tăng trưởng hoặc hệ số co giãn của nhập khẩu theo thu nhập giảm thì nền kinh tế sẽ tăng trưởng nhanh hơn trong dài hạn.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở trạng thái cân bằng của cán cân thanh toán theo Thirlwall được thể hiện bởi phương trình sau: g = x/π Trong đó: g: Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở trạng thái cân bằng của cán cân thanh toán x: Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu π: Hệ số co giãn của nhập khẩu theo thu nhập Tăng cường xuất khẩu cũng có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế từ phía cầu theo một số kênh dẫn khác. Chẳng hạn, Awokuse (2003) khẳng định, mở rộng xuất khẩu có thể là một nhân tố kích thích tăng trưởng sản lượng một cách trực tiếp với vai trò là một bộ phận cấu thành của tổng cầu, cũng như gián tiếp thông qua phân bổ nguồn lực hiệu quả, khai thác hiệu quả kinh tế theo quy mô và kích thích cải tiến kỹ thuật do sự cạnh tranh trên thị trường nước ngoài. Tăng cường xuất khẩu có thể cung cấp ngoại hối tài trợ cho nhập khẩu hàng hóa trung gian và hàng hóa vốn, mà đến lượt nó, làm tăng sự hình thành vốn, góp phần tích cực đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất nội địa và thúc đẩy tăng trưởng. McKinnon (1964), Balassa (1978), Esfahani (1991), Buffie (1992) cũng có cách nhìn tương tự về vấn đề này.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Mô hình tăng trưởng tân cổ điển Robert Solow sinh năm 1987, ông là giáo sư được tặng giải Nobel kinh tế về những nghiên cứ thực nghiệp có đóng góp xuất sắc trong lý thuyết tăng trưởng. Điều đặc biệt là ông đã đưa ra cách lý giải về nguồn gốc của tăng trưởng. Trong mô hình đầu tiên (mô hình gốc), Solow phân tích mô hình cơ bản dựa vào mô hình Cobb - Doulas với hai yếu tố lao động và đầu tư, tiết kiệm, sau đó ông mới trình bày mô hình tổng quát với yếu tố công nghệ tác động tới tăng trưởng như thế nào. Mô hình này của ông còn được gọi là mô hình tăng trưởng ngoại sinh, vì mô hình không đề cập đến các nhân tố bên trong, kết quả của tăng trưởng kinh tế sẽ hội tụ về một tốc độ nhất định, ở đó gọi là trạng thái bền vững.
Chỉ các yếu tố bên ngoài như công nghệ, tốc độ tăng trưởng lao động mới thay đổi được tốc độ tăng trưởng kinh tế ở trạng thái bền vững. Nghiên cứu này của Solow cho đến hiện tại vẫn còn xảy ra nhiều cuộc tranh luận, tuy vậy, mô hình tăng trưởng của Solow vẫn được đánh giá là một trong những mô hình có tác động lớn trong hệ thống lý thuyết tăng trưởng. Mô hình này dựa trên các giả định như là giá cả linh hoạt trong dài hạn. Đây là một quan điềm của kinh tế học tân cổ điển.
Khi này, lao động L được sử dụng hoàn toàn và nền kinh tế tăng trưởng hết mức tiềm năng. Đồng thời toàn bộ tiết kiệm sẽ chuyển hóa thành đầu tư. Mức sản lượng thực tế Y phụ thuộc vào lực lượng L, lượng tư bản K và năng suất lao động A. Từ đó, ta có một hàm sản xuất vĩ mô Y =F(A,L,K).
Giả thuyết là hàm này có dạng Cobb – Doulas như sau: Nền kinh tế đóng cửa và không có sự can thiệp của chính phủ, có sự khấu hao tư bản. Khi có đầu tư mới, trữ lượng vốn tăng lên nhưng đồng thời, vốn cũng bị khấu hao theo thời gian. Khi đó lượng vốn mới có sẽ bằng lượng vốn mới tạo ra từ đầu tư trừ đi các khoản hao mòn. Tư bản K và lao động L tuân theo quy tắc lợi tức biên giảm dần, có nghĩa là khi tăng K thì ban đầu Y tăng rất nhanh đến một lúc nào đó Y tăng chậm lại.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Dựa trên các giả định trên, mô hình tăng trưởng của Solow đã chỉ ra trạng thái dừng của nền kinh tế.