Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) trong lĩnh vực Du Lịch Chương 2: Thực trạng thu hút vốn FDI vào lĩnh vực Du Lịch Hà Nội Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm thu hút FDI vào lĩnh vực Du Lịch Hà Nội 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH 1. Lý luận chung về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Trong quá trình sử dụng và khai thác, các yếu tố vật thể cũng nhƣ phi vật thể, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các cơ sở vật chất - hạ tầng kỹ thuật đều bị xuống cấp, lạc hậu hay bị cạn kiệt dần. Để có thể duy trì, phát triển và bảo tồn các giá trị văn hóa trong xã hội nói chung cũng nhƣ phát triển ngành Du lịch, cần tăng cƣờng bảo trì, mở rộng quy mô, nâng cao chất lƣợng của các yếu tố này.
Chính vì vậy cần có sự đầu tƣ hợp lý để phát triển kinh tế bền vững. Ðầu tƣ là việc nhà đầu tƣ bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tƣ. Trên thế giới có nhiều cách diễn giải khái niệm FDI tùy theo góc độ tiếp cận của các nhà kinh tế. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (Foreign Direct Investment) là vốn đầu tƣ thực hiện để thu đƣợc lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tƣ.
Mục đích của nhà đầu tƣ là giành đƣợc tiếng nói có hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp đó. Khái niệm này nhấn mạnh 3 yếu tố: chủ thể đầu tƣ phải có yếu tố nƣớc ngoài, tính lâu dài của một hoạt động đầu tƣ và động cơ đầu tƣ là giành quyền kiểm soát trực tiếp hoạt động quản lý của doanh nghiệp. Đây là sự phân biệt FDI với đầu tƣ gián tiếp trên thị trƣờng vốn trong nền kinh tế hiện đại. Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thƣơng Mại và Phát triển (UNCTAD) cũng đƣa ra một khái niệm về FDI.
Theo đó, luồng vốn FDI bao gồm vốn đƣợc cung cấp (trực tiếp hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài cho các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài nhận đƣợc từ doanh nghiệp FDI. FDI gồm có ba bộ phận: vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tƣ và các khoản vay trong nội bộ công ty. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trung Quốc quan niệm FDI là việc ngƣời sở hữu tƣ bản tại nƣớc này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nƣớc khác. Theo đó, nếu khoản tiền mà nhà đầu tƣ trả cho thực thể kinh tế này của nƣớc ngoài có “ảnh hƣởng quyết định” đối với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêm “Quyền cầm cái” trong thực thể kinh tế mà nó có ảnh hƣởng ấy, thì đó là đầu tƣ trực tiếp.
Quyền kiểm soát mà các nhà lý luận Trung Quốc đề cập tới đó là tỷ lệ chiếm hữu cổ phần; khi cổ phần đạt tới tỷ lệ nào đó thì có quyền kiểm soát xí nghiệp và quyền này là vấn đề cốt lõi của đầu tƣ trực tiếp. Nhƣ vậy cách hiểu của Trung Quốc nhấn mạnh đến khía cạnh sở hữu hoặc kiểm soát trực tiếp của chủ đầu tƣ đối với Các hoạt động đầu tƣ bằng vốn đầu tƣ của mình [3, tr. Theo luật đầu tƣ nƣớc ngoài (ĐTNN) tại Việt Nam năm 1987 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ĐTNN tại Việt Nam (số 18/2000/QH10) năm 2000 thì: Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là việc nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣa vào Việt Nam vốn hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tƣ là ngƣời nƣớc ngoài nhằm xác định đƣợc tƣ bản đƣợc chuyển dịch trong đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài nhất thiết phải vƣợt ra khỏi phạm vi một quốc gia. Từ những khái niệm trên, trong phạm vi luận văn này ta có thể hiểu một cách khái quát về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài nhƣ sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào vào quốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiêu tối đa hoá lợi ích của mình.
Tài sản trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế, có thể là tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bất động sản, các loại hợp đồng và giấy phép có giá trị …), tài sản vô hình (quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết và kinh nghiệm quản lý…) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ…). Nhƣ vậy FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có nhân tố nƣớc ngoài. Hai đặc điểm cơ bản của FDI là: có sự dịch chuyển tƣ bản trong phạm vi quốc tế và chủ đầu tƣ (pháp nhân, thể nhân) trực tiếp tham gia vào hoạt động sử dụng vốn và quản lí đối tƣợng đầu tƣ. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI có đặc điểm tích cực và tiêu cực, nó có sự khác biệt so với đầu tƣ gián tiếp hay các khoản vay nợ nƣớc ngoài khác. Ƣu điểm: Thứ nhất, FDI không để lại gánh nặng nợ nƣớc ngoài cho nƣớc tiếp nhận đầu tƣ nhƣ các khoản vay thƣơng mại, ODA, phát hành trái phiếu ra nƣớc ngoài. Các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài tự bỏ vốn ra kinh doanh, trực tiếp sản xuất điều hành chính vì vậy họ xây dựng chiến lƣợc làm ăn lâu dài tại nƣớc nhận đầu tƣ, tự chịu mọi trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Chủ động lựa chọn hình thức liên doanh với các đối tác trong nƣớc.
So với nguồn vốn ODA, vốn vay thƣờng phải chịu áp lực về lãi suất, hay các ràng buộc khác đi kèm thì vốn FDI ít rủi ro đối với nƣớc tiếp nhận. Thứ hai, FDI không chỉ đơn thuần di chuyển vốn bằng tiền mà đi kèm theo đó là công nghệ, kỹ thuật, cách thức quản lý, sản xuất ra những sản phẩm mới, mở ra thị trƣờng mới cho nƣớc tiếp nhận đầu tƣ. Thứ ba, do đặc điểm và bản chất của FDI nhà đầu tƣ nƣớc ngoài khó rút vốn ra khỏi nƣớc sở tại nhƣ đầu tƣ gián tiếp. Trong các cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài thƣờng rút vốn ồ ạt bằng cách bán rẻ cổ phiếu, trái phiếu đang nắm giữ, làm giảm giá chứng khoán, gây đổ vỡ thị trƣờng chứng khoán.
Đối với FDI, nhà đầu tƣ nƣớc ngoài thƣờng tính chuyện làm ăn lâu dài, vốn của họ bao gồm cả những nguồn lực cho khoa học công nghệ, nghiên cứu thị trƣờng, đào tạo nguồn nhân lực, nằm trong nhà xƣởng, do vậy trong trƣờng hợp muốn rút vốn thì phải tìm đƣợc đối tác để bán lại, thanh lý nhà máy thì mới thu hồi đƣợc vốn. Thứ tư, thông qua tiếp nhận FDI nhờ đó mà nƣớc tiếp nhận đầu tƣ có điều kiện gắn kết nền kinh tế trong nƣớc với quốc tế, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Thứ năm, vốn FDI đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đóng góp vào ngân sách và các cân đối vĩ mô, thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, tác động lan tỏa đến các thành phần kinh tế khác. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngoài những mặt tích cực, thì bên cạnh đó FDI cũng có mặt trái đối với quốc gia tiếp nhận.
Một số hạn chế Mục tiêu lớn nhất của nhà đầu tƣ là thu đƣợc lợi nhuận càng cao càng tốt vì vậy có thể quốc gia tiếp nhận đầu tƣ có trình độ quản lý yếu kém, công nghệ sản xuất thấp, nên nhà đầu tƣ lợi dụng vào đó để tiêu thụ máy móc thiết bị lạc hậu, thậm trí là hàng thải loại. Nếu không có sự quản lý, giám sát, quy định chặt chẽ thì quốc qia tiếp nhận FDI dễ trở thành "bãi rác công nghệ" của các đối tác đầu tƣ. Thực tế, theo Vneconomy tổng hợp năm 2009, một tỉnh phía Nam công bố, có đến 40% doanh nghiệp FDI trên địa bàn “đồng loạt” báo cáo lỗ. Điều này gây nên những hoài nghi về khả năng cạnh tranh của dự án FDI, cũng nhƣ “bẫy” chuyển giá tạo lỗ giả của một số doanh nghiệp mà các phƣơng tiện truyền thông đã không ít lần nhắc đến.
Trong khi đó, sự phối hợp trung ƣơng và địa phƣơng trong quản lý sau phân cấp có phần chƣa chặt chẽ. Tại hội thảo "Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam thời kỳ hậu khủng hoảng kinh tế", đƣợc tổ chức sáng 21/5 tại Hà Nội học giả Nguyễn Mại lấy ví dụ về phát triển xi măng có thể đạt 90 triệu tấn/năm, hay đầu tƣ chế tạo thép, sân golf tràn lan làm ví dụ cho việc phá vỡ quy hoạch, trong đó có phần “đóng góp” của các doanh nghiệp FDI. Cục Đầu tƣ nƣớc ngoài nhìn nhận: “Nhận thức về thu hút và quản lý các nguồn vốn FDI tại địa phƣơng chƣa đồng bộ, có khi nóng vội, thiên về lợi ích trƣớc mắt mà chƣa tính đến vấn đề chiến lƣợc, thu hút đầu tƣ một số nơi còn chạy theo số lƣợng mà thiếu quan tâm đến chất lƣợng, ảnh hƣởng cân đối tổng thể nền kinh tế”. - Việc sử dụng nhiều vốn FDI có thể sẽ không chú trọng tối đa nguồn lực trong nƣớc gây ra mất cân đối trong cơ cấu đầu tƣ (giữa vốn FDI và vốn trong nƣớc) , nền kinh tế phụ thuộc vào bên ngoài, mất đi tính chủ động.
- Đóng góp hạn chế, nhiều doanh nghiệp FDI lại đang tàn phá môi trƣờng ghê gớm. “Một số doanh nghiệp đầu tƣ nƣớc ngoài chƣa tự giác trong việc tuân thủ quy định về bảo vệ môi trƣờng, chỉ vận hành hệ thống xử lý chất thải khi cơ quan chức năng quản lý môi trƣờng phát hiện và xử phạt” Nguồn : Báo Vneconomy 21/5/2010 Hộp số 1: Hạn chế của FDI 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trên đây là một số mặt tích cực và hạn chế của FDI, tuy nhiên nó ảnh hƣởng nhƣ thế nào còn phụ thuộc vào nƣớc tiếp nhận đầu tƣ (thể chế, chính sách, chiến lƣợc phát triển,.