Đặt vấn đề Nhà kinh tế học Paul Anthony Samuelson với tác phẩm “Kinh tế học: Một phân tích nhập môn” (Economics: An Introductory Analysis), được xuất bản vào năm 1948, đã đưa ra lý thuyết “Cái vòng luẩn quẩn” và “Cú huých từ bên ngoài”. Trong đó, lý thuyết đã đưa ra hàm ý về vai trò của đầu tư nước ngoài đối với tăng trưởng của một quốc gia. Theo lý thuyết này, một quốc gia muốn tăng trưởng kinh tế cần có bốn yếu tố: vốn, nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên và công nghệ. Tuy nhiên, không phải quốc gia nào cũng hội tụ đủ các nhân tố cần thiết này, đặc biệt là những quốc gia nghèo và những quốc gia đang phát triển.
Đa số những quốc gia trong nhóm này thường có thu nhập bình quân đầu người thấp, làm hạn chế khả năng tích luỹ vốn, nên đầu tư để gia tăng năng suất và sản lượng không cao.Từ đó, dẫn đến việc hình thành nên “cái vòng luẩn quẩn” của sự chậm phát triển (hình 1. Theo Samuelson, các quốc gia muốn phá vỡ “cái vòng luẩn quẩn” này, thì cần phải có “Cú huých từ bên ngoài”, nghĩa là các quốc gia này cần có sự đầu tư từ bên ngoài về vốn, để khai thác hết tiềm năng vốn có của quốc gia, từ đó, gia tăng năng suất và sản lượng. Trong đó, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được xem là cú huých mang tính đột phá quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế.1: “Vòng luẩn quẩn” của sự chậm phát triển TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 Khi so sánh với các nguồn vốn đầu tư nước ngoài khác như nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI), …, thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được xem là có ưu điểm vượt trội hơn hẳn. Bên cạnh việc bổ sung vốn đầu tư để phá vỡ “cái vòng luẩn quẩn” hướng đến mục tiêu tăng trưởng, đầu tư trực tiếp nước ngoài còn góp phần gia tăng thặng dư tài khoản vốn, cải thiện cán cân thanh toán, đẩy mạnh xuất khẩu, chuyển giao công nghệ, tạo cơ hội cho các nước, nhất là các nước nghèo, tiếp cận công nghệ tiên tiến, nâng cao kỹ năng quản lý, trình độ lao động, mở rộng hợp tác đầu tư với các nước và thúc đẩy hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới v.
Vì thế, nhiều học giả và nhà làm chính sách đã nhìn nhận và xem đầu tư trực tiếp nước ngoài như là một trong những “trụ cột quan trọng” giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của một quốc gia (Caves, 2007; Dunning và Lundan, 2008; Franco, 2013; Giroud, 2007; Lim, 2001; UNCTAD, 2011). Tuy nhiên, trong thực tế, không phải quốc gia nào cũng có thể khai thác triệt để những ưu điểm sẵn có của nguồn vốn FDI. Một số quốc gia thu hút dòng vốn FDI khá lớn, nhưng đóng góp của nguồn vốn này vào tăng trưởng là không đáng kể. Chính điều này đã thúc đẩy các nhà kinh tế quan tâm nhiều hơn về mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế.
Qua thời gian, đầu tư trực tiếp nước ngoài không những tăng trưởng khá cao, mà còn đa dạng về hình thức đầu tư, cũng như khu vực đầu tư (Buckley và Casson, 1976, trang 36). Sự lớn mạnh của FDI được thể hiện rõ trong hình 1. Tăng trưởng đáng kể của FDI từ thập niên 1990 đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, điều đó được thể hiện qua hàng loạt các nghiên cứu kinh tế cả lý thuyết lẫn thực nghiệm về các yếu tố quyết định đến FDI cũng như ảnh hưởng của FDI đến tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, những bài nghiên cứu này không đưa ra được một kết luận rõ ràng về ảnh hưởng của FDI đến tăng trưởng.
Trong nghiên cứu của Sasi Iamsiraroj cùng Mehmet Ali Ulubaşoğlu (2015), hai tác giả đã tiến hành thống kê 108 bài nghiên cứu thực nghiệm cùng với 880 kết quả ước lượng hồi quy, về ảnh hưởng của FDI đến tăng trưởng kinh tế, kết quả cho thấy, khoảng 69% ước lượng cho rằng, FDI giúp thúc đẩy tăng trưởng, còn 31% còn lại cho thấy FDI không giúp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 tăng trưởng mà còn kiềm hãm tiến trình tăng trưởng của một quốc gia. Trong đó, khoảng 40% kết quả không có ý nghĩa thống kê. Bên cạnh việc nghiên cứu ảnh hưởng của FDI đến tăng trưởng kinh tế, nhiều nhà nghiên cứu còn xem tăng trưởng như là một trong những nhân tố quyết định, để thu hút nguồn vốn FDI (Dasgupta và Rath, 2000; Durham, 2002; Hsiao và Shen 2003; Lipsey, 2000; Roy và Mandal 2012; Vita và Kyaw, 2008). Điều đó dẫn đến khả năng tồn tại mối liên hệ qua lại giữa FDI và tăng trưởng kinh tế.
Chính mối liên hệ này có thể làm phát sinh hiện tượng nội sinh và tính đồng thời của hai nhân tố trong khi ước lượng, dẫn đến kết quả của nhiều bài nghiên cứu thực nghiệm sẽ thiếu chính xác khi chỉ ước lượng tác động bằng mô hình một phương trình1. 100% 90% 80% 70% 60% 50% 40% 30% 20% 10% 0% 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014Developing economies Transition economies Developed economies Hình 1.2: Dòng Vốn FDI Đổ Vào Các Nền Kinh Tế Giai Đoạn 1990-2014 Nguồn: UNCTAD (www.org/fdistatistics) Trong những năm gần đây, dòng vốn FDI có xu hướng dịch chuyển sang nhóm các quốc gia đang phát triển. Tính đến thời điểm năm 2014, dòng vốn FDI đổ vào các quốc gia đang phát triển đã chiếm 55%, hơn một nửa dòng vốn FDI của thế giới. 1 Tính đến thời điểm này, đa số những bài nghiên cứu thực nghiệm thường sử dụng mô hình một phương trình để phân tích mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Khi ước lượng mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa thêm vào mô hình nhiều nhân tố như: sự phát triển của thị trường tài chính, lạm phát, lãi suất, độ mở thị trường, v. Tuy nhiên, rất ít bài nghiên cứu quan tâm đến vai trò của nguồn nhân lực. Trong khi đó, nhân tố này không những được xem là một trong các yếu tố quyết định khi thu hút FDI mà còn có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, như theo lý thuyết “cái vòng luẩn quẩn” đã đề cập. Nghiên cứu của Li và Liu (2005) qua khảo sát 88 quốc gia tiếp nhận vốn FDI (bao gồm các quốc gia phát triển và đang phát triển) đã cho thấy, tác động của nguồn nhân lực vào mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế.
Hai tác giả chỉ ra rằng, nước tiếp nhận FDI phải có nguồn nhân lực đạt tới một trình độ nhất định thì mới có thể phát huy được tác động tích cực của FDI đến tăng trưởng kinh tế, bằng không chính nguồn vốn FDI này sẽ gây cản trở cho tiến trình tăng trưởng. Điều này ngụ ý rằng, tồn tại một ngưỡng trình độ tối thiểu, mà nếu vượt qua ngưỡng này thì FDI mới có tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu nghiên cứu Bài nghiên cứu này hướng đến xem xét mối liên hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế dưới tác động của nguồn nhân lực. Để khám phá mối liên hệ này, bài nghiên cứu tiến hành xem xét các vấn đề sau: Thứ nhất, mối liên hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế Thứ hai, ảnh hưởng của nguồn nhân lực đến đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế Thứ ba, mối liên hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế dưới tác động của nguồn nhân lực Ngoài ra, bài nghiên cứu còn kiểm định thêm tác động của các yếu tố quyết định khác đến FDI và tăng trưởng kinh tế như nguồn lực quốc gia, chính sách nhà nước và hệ thống thể chế.
Phạm vi và phương pháp nghiên cứu Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng cho 52 quốc gia thuộc nhóm các quốc gia có thị trường mới nổi và nền kinh tế đang phát triển, giai đoạn từ năm 2005 đến TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Bằng ước lượng mô hình đồng thời gồm hai phương trình tăng trưởng kinh tế và dòng vốn FDI, bài nghiên cứu sẽ cho ra ước lượng phù hợp vì đã xem xét đến hiện tượng nội sinh và tính đồng thời của hai nhân tố FDI và tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, hệ mô hình đồng thời còn giúp xác định những kênh truyền dẫn trung gian ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Kết cấu bài nghiên cứu Bài nghiên cứu này được cấu trúc như sau: trong chương hai, bài nghiên cứu sẽ trình bày tóm lược các nghiên cứu trước đây có liên quan đến mục tiêu nghiên cứu.
Chương 3 sẽ nói rõ về mô hình nghiên cứu được áp dụng để giải quyết mục tiêu nghiên cứu. Chương 4 đưa ra dữ liệu và những phương pháp ước lượng được sử dụng trong nghiên cứu này. Kết quả ước lượng sẽ được trình bày cụ thể và thảo luận ở chương 5. Cuối cùng là những kết luận tổng quát liên quan đến mục tiêu nghiên cứu sẽ được nói rõ trong chương 6.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU. Các khái niệm liên quan Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu mà tất cả các quốc gia hướng đến. Khi nói về tăng trưởng kinh tế, Pramit Chaudhuri, Economic Theory of Growth (1989), cho rằng “Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên của sản lượng hàng hoá và dịch vụ mà sự tăng lên này được duy trì trong thời gian dài”.
Theo định nghĩa của Simon Kuznets (1966), “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng một cách bền vững của sản lượng bình quân đầu người hay sản lượng trên mỗi lao động” còn theo Douglass C. North và Robert P.Thomas (1973) “Tăng trưởng kinh tế xảy ra nếu sản lượng tăng nhanh hơn dân số”. Hầu hết các nhà kinh tế đều thống nhất với nhau rằng, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng trong thu nhập bình quân đầu người hay sản lượng của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức nhà đầu tư tiến hành đầu tư vào tài sản cố định được sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh doanh ở nước ngoài và đạt được quyền kiểm soát doanh nghiệp đó ở nước ngoài (Đinh Thị Thu Hồng cùng các tác giả, 2015).
Theo Griffin và Pustay (2007), đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc kiểm soát hơn 10% cổ phiếu có quyền biểu quyết của doanh nghiệp.