PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Sau 25 năm tiến hành công cuộc Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu khá thuyết phục về kinh tế và xã hội. Giai đoạn 2001 – 2010, hàng năm nền kinh tế Việt Nam đều đạt tốc độ tăng trưởng tương đối khá, bình quân mỗi năm tổng sản phẩm trong nước tăng 7,26%, trong đó, Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2001 – 2005 tăng 7,51%/năm [20], Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006 – 2010 tăng 7,01%/năm. Thành tựu trên là dấu hiệu tốt của quá trình chuyển đổi kinh tế và là kết quả của các chính sách mà Việt Nam đã và đang thực hiện trước những thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế thế giới, đặc biệt là xu thế toàn cầu hoá.
Trên cơ sở những đổi mới tư duy kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý được đề ra tại Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, năm 1987 Quốc hội khoá VIII đã thông qua và ban hành “Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” với mục tiêu tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động sản xuất, kinh doanh nói chung và môi trường pháp lý cho hoạt động đầu tư nước ngoài nói riêng. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 170 quốc gia trên thế giới, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá tới trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ. Tháng 7/1995 Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và chính thức tham gia Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), đây được coi là một bước đột phá về hành động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Tiếp đó, năm 1996 Việt Nam tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á- Âu (ASEM) và đến năm 1998 được kết nạp vào diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC).
Ngoài ra, Việt Nam cũng tham gia các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế như: chương trình phát triển Liên Hợp quốc (UNDP), Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO), Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Tổ chức Giáo dục, Khoa học, và Văn hoá của Liên Hợp quốc (UNESCO), Ngân hàng thế giới (WB),…. Đặc biệt, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã có một bước đi quan trọng khi đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007 sau 11 năm đàm phán gia 2 nhập tổ chức này. Việc chính thức gia nhập WTO nói riêng và những kết quả đạt được trong những hoạt động kinh tế đối ngoại giai đoạn 2001 – 2010 nói chung đã đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng đầy đủ với nền kinh tế khu vực và thế giới, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Các nỗ lực của Chính phủ Việt Nam đã đem lại những kết quả đáng khích lệ về thu hút vốn FDI vào Việt Nam.
Tính đến hết tháng 12/2012, theo thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam đã thu hút được 14.522 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng vốn đăng ký đạt 210,5 tỷ USD, trong đó vốn giải ngân đạt 71,9 tỷ USD, thu hút được 100 quốc gia và vùng lãnh thổ đến đầu tư tại hầu hết các lĩnh vực quan trọng như: công nghiệp chế biến, chế tạo, xây dựng, thông tin và truyền thông, khai khoáng, dịch vụ lưu trú và ăn uống… [20]. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là khu vực phát triển năng động nhất với tốc độ tăng GDP luôn cao hơn tốc độ tăng của cả nước. Năm 1995, GDP của khu vực FDI tăng 14,98% trong khi GDP cả nước tăng 9,54%; năm 2000 tốc độ này tương ứng là 11,44% và 6,79%; năm 2005 là 13,22% và 8,44%; năm 2010 là 8,12% và 6,78%. Tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI vào GDP tăng dần từ 2% năm 1992 lên tới 12,7% năm 2000; 16,98% năm 2006 và 18,97% vào năm 2011.
[10] Tác động của khu vực FDI cũng đã góp phần quan trọng vào xuất khẩu. Trước năm 2001, xuất khẩu của khu vực FDI chỉ đạt 42,5% tổng kim ngạch kể cả dầu thô. Từ năm 2003, xuất khẩu của khu vực này bắt đầu vượt khu vực trong nước và dần trở thành nhân tố chính, thúc đẩy xuất khẩu, chiếm 64% tổng kim ngạch xuất khẩu vào năm 2012. FDI cũng góp phần vào ngân sách này ngày càng tăng.
[2] Ngoài những đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, khu vực FDI đã góp phần nhất định vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, tạo công ăn việc làm cho 2 triệu lao động trực tiếp và 3-4 triệu lao động gián tiếp. Khu vực FDI cũng được đánh giá là kênh chuyển giao công nghệ quan trọng, góp phần nâng cao trình độ công nghệ của nền kinh tế. Theo thống kê, từ năm 1993 đến tháng 3/2013, Việt Nam đã có 951 hợp đồng chuyển giao công nghệ được phê duyệt, đăng ký; trong đó 605 hợp đồng là của khu vực doanh nghiệp FDI, chiếm 63,6% tổng số hợp đồng chuyển giao công nghệ được phê duyệt, đăng ký,… đó là những tiền đề làm cho tác động lan tỏa của khu vực FDI đối với nền kinh tế là rất lớn. 23 trọng cao và nền kinh tế phát triển theo con đường tư nhân hoá.
Ở Việt Nam hiện nay đang tồn tại 6 thành phần kinh tế là: thành phần kinh tế nhà nước, thành phần kinh tế tập thể, thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ, thành phần kinh tế tư bản tư nhân, thành phần kinh tế tư bản nhà nước, thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Các thành phần kinh tế nói trên không có sự phân biệt về thái độ đối xử, đều có môi trường và điều kiện phát triển như nhau, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Cơ cấu khu vực thể chế: theo dạng cơ cấu này, nền kinh tế được phân chia dựa trên cơ sở vai trò các bộ phận cấu thành trong sản xuất kinh doanh và qua đó đánh giá được vị trí của mỗi khu vực trong vòng luân chuyển kinh tế và mối quan hệ giữa chúng trong quá trình thực hiện sự phát triển kinh tế. Các đơn vị thể chế thường trú trong nền kinh tế được chia thành các khu vực: khu vực chính phủ (bao gồm tất cả các hoạt động được thực hiện bằng ngân sách nhà nước) và khu vực tư nhân.
Cơ cấu tái sản xuất: đây là cơ cấu kinh tế hiểu theo góc độ phân chia tổng thu nhập của nền kinh tế theo tích lũy – tiêu dùng. Phần thu nhập dành cho tích lũy tăng và chiếm tỷ trọng cao là điều kiện cung cấp vốn lớn cho quá trình tái sản xuất mở rộng của nền kinh tế. Tỷ trọng thu nhập dành cho tích luỹ ngày càng cao chính là xu thế phù hợp trong quá trình phát triển, tuy vậy việc gia tăng tỷ trọng thu nhập dành cho tích lũy tái đầu tư phải có tác dụng dẫn đến gia tăng mức thu nhập dành cho tiêu dùng cuối cùng trong tương lai vì đó là kết quả của quá trình tích lũy. Ngoài các dạng trên, cơ cấu kinh tế của đất nước còn được biểu hiện theo những góc độ khác nhau như: cơ cấu theo tính chất xã hội, cơ cấu theo tính chất kỹ thuật, theo quy mô sản xuất, cơ cấu thương mại quốc tế,… Mỗi dạng đều phản ánh những khía cạnh và tính chất của quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Nhóm các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế Hiệu quả sản xuất của nền kinh tế được thể hiện dưới các góc độ: năng suất sử dụng các yếu tố đầu vào là vốn và lao động, đóng góp của TFP với tăng trưởng kinh tế. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng lao động – Năng suất lao động: để tính năng suất lao động cho toàn bộ nền kinh tế, có thể đơn giản lấy GO (theo giá cố định) chia cho số lao động (hoặc giờ lao động). Nếu GO bình quân trên mỗi lao 24 động càng lớn thì năng suất lao động càng cao. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn – Hệ số ICOR: tỷ lệ gia tăng vốn trên sản lượng (ICOR) là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp cho biết: để tăng thêm một đơn vị tổng sản phẩm trong nước đòi hỏi phải tăng thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư thực hiện.
Vì vậy, hệ số này phản ánh hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư tới tăng trưởng kinh tế. Tốc độ tăng TFP và tỷ phần đóng góp của tốc độ tăng TFP: năng suất có tính chất lượng là phần tăng GDP sau khi trừ đi đóng góp của tăng số lượng lao động và số lượng tài sản cố định dùng trong sản xuất. Phần thặng dư có tính chất lượng này phản ánh việc tăng chất lượng tổ chức lao động, chất lượng máy móc, vai trò của quản lý và tổ chức sản xuất, được gọi chung là năng suất nhân tố tổng hợp TFP. Nói một cách rõ ràng hơn, TFP là chỉ số phụ thuộc vào hai yếu tố: tiến bộ công nghệ và kỹ thuật; và hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào.
TFP chiếm tỷ trọng cao trong đóng góp của vào tăng trưởng kinh tế sẽ đảm bảo duy trì được tốc độ tăng trưởng dài hạn và tránh được những biến động kinh tế từ bên ngoài. Tốc độ tăng TFP được tính theo công thức: gTFP = gY − (α g K + β g L ) (1.14) Trong đó, gY là tốc độ tăng GDP, g K là tốc độ tăng vốn hoặc tài sản cố định, g L là tốc độ tăng lao động làm việc, α và β lần lượt là hệ số đóng góp của vốn và lao động, thường được xác định bằng phương pháp hạch toán tăng trưởng hoặc bằng hàm sản xuất Coob-Douglas. Tốc độ tăng TFP là chỉ tiêu phản ánh đích thực và khái quát nhất hiệu quả sử dụng nguồn lực sản xuất, là căn cứ quan trọng để đánh giá tính chất phát triển và bền vững của kinh tế, là cơ sở để phân tích hiệu quả sản xuất xã hội, đánh giá tiến bộ khoa học công nghệ, đánh giá trình độ tổ chức và quản lý sản xuất,…của mỗi ngành, mỗi địa phương hay mỗi quốc gia. Chính vì vậy, tốc độ tăng trưởng TFP và tỷ phần đóng góp của tốc độ tăng TFP là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tăng trưởng.