Chương I như sau: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức. Với nhận thức như vậy, luận văn khái lược chung về Phật Giáo ở Hà Tiên như sau. Khái lược về vùng Hà Tiên trong lịch sử Như đã biết, vùng Hà Tiên xưa kia là một phần của các vương quốc cổ, nằm về phía Đông của các vương quốc này, trong vùng biển Vịnh Thái Lan nhiều rừng núi, hải đảo và sản vật quí. Theo sách Lịch sử thế giới trung đại (quyển II) nêu rõ: “Người dân xưa đã có điều kiện để sinh sống bằng lượm hái, săn bắn, đánh cá, trồng trọt, do đó mà không ngừng tiến triển.
Đây là một 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong những quốc gia đóng góp tích cực vào nền văn hóa lâu đời, vào vận mệnh lịch sử ở Đông Nam Á” [18, tr.219] nói chung, mảnh đất Hà Tiên xưa nói riêng. Vào thế kỷ I sau công nguyên, Hà Tiên là vùng hạ của tiểu quốc Ba Nam xưa, đây là một trong những tiểu quốc lớn mạnh và quan trọng của vương quốc Phù Nam vào thế kỷ I. Ba Nam là tên một quả núi (thực ra là một gò núi nhỏ ở bờ trái hạ lưu sông Mê Kông), còn gọi là Ba Phnom (Nam hay Phnom là núi; Ba hay là dmâk, dalmâk (đặc mục) là người đi săn), về sau gọi theo chữ Phạn trong các bi ký, Vyâdhapura, cũng chỉ là sự dịch nghĩa: Xứ sở của những người đi săn [18, tr. Tên Phù Nam (hay Bạt Nam) là chuyển âm - Đây chắc là nơi sinh sống thuận tiện, nên dân cư sớm tập trung đông đúc.
Tiểu quốc Ba Nam sớm hình thành, phát triển nhanh, mạnh nên khiến cho các tiểu quốc khác (vốn có quan hệ thân tộc) càng phải kết thân và thần phục. Ba Nam trở nên có địa vị lãnh đạo, tiêu biểu cho các tiểu quốc khác, mà tên của nó là đại diện cho sự thống nhất của các quốc gia sơ kỳ của người Khmer: Quốc gia Phù Nam. [18] Những nhà nước hình thành trên lãnh thổ, trong đó có vùng đất này đã được các tài liệu cổ gọi bằng những tên gọi khác nhau, từ Phù Nam, Thủy Chân Lạp, cho đến Việt Nam ngày nay, đã phản ảnh những bước phát triển trong quan hệ xã hội, chính trị của các tộc người anh em. Tên gọi Phù Nam xứng đáng là tên chính thức của vương quốc bởi vì thường được nhắc tới trong văn bia của các đời vua và từ một câu chuyện thần thoại truyền thống, phản ánh tính chất phát triển liên tục của lịch sử vùng này.
“… Ở phía nam quận Nhật Nam, trên bờ phía tây đại dương, rộng 3.000 lý, có một con sông từ phía tây chạy ra bể. Vua nước ấy là một nữ hoàng, tên là Liễu Diệp. Sau có một ngýời ở cõi ngoài tên là Hỗn Điền đêm mộng thấy thần ban cho cái cung và bảo đi thuyền ra bể. Sáng sớm, Hỗn Điền đến đền thờ thần, bắt được một 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cái cung ở gốc cây, rồi đi thuyền đến nước Phù Nam.
Liễu Diệp đem quân ra đánh. Hỗn Điền giương cao cái cung, từ xa bắn một phát, xuyên qua vỏ thuyền, thẳng tới trúng phải một người. Liễu Diệp cả sợ, xin hàng. Hỗn Điền bắt làm vợ.
Rồi ông ta cai trị nước, truyền cho con cháu…”.222] “Quốc gia Phù Nam duy trì đến năm 550 thì suy lụi dần rồi bị vua Chen-la (Thủy Chân Lạp) đánh bại lên nắm bá quyền, chuyển sang một thời kỳ mới, “Tài liệu xưa ghi chép lại như sau: “Chân Lạp ở phía tây Lâm Ấp. Nguyên trước đây là thuộc quốc của Phù Nam…”, “Tổ tiên đã dần dần làm cho nước trở nên hùng cường. Chi-tơ-ra-sê-na chiếm được Phù Nam và bắt thần phục. Ông ta mất, con là I-sa-na-sê-na nối nghiệp…”.226] Đánh dấu khởi đầu cho thời kỳ Ăng-co là khi ”Campuchia lâm vào tình trạng chia rẽ và ngưng trệ do chế độ thống trị của người Gia-va gây nên.
Trong nước có nhu cầu khôi phục sự thống nhất và tự chủ. Giay-a-vác-man II, vốn thuộc hoàng tộc Cam-pu-chia, đã phải bỏ chạy sang Gia-va khi nước nhà có tranh chấp nội bộ và ngoại xâm, đã nhân cơ hội này trở về nước, tập hợp lực lượng đấu tranh và lên ngôi vua năm (năm 802).230-231], đánh dấu một thời kỳ huy hoàng trong giai đoạn lịch sử kéo dài từ năm 802 đến năm 1. “Từ nữa thế kỷ XV, Cam-pu-chia bước vào thời kỳ suy thoái nhanh chóng. Vương quốc của người Thái - Thống nhất vào giữa thế kỷ XIV - đã mạnh lên, dồn dập tấn công, cướp phá và lấn đất của Cam-pu-chia trong nữa sau thế kỷ XV và suốt thế kỷ XVI.246] “Đầu thế kỷ XVII, trước sự uy hiếp dữ dội của người Thái, Cam-pu- chia hướng tới kết thân và dựa vào người Việt.622, vua Campuchia tăng thêm quan hệ hòa hiếu và kết hôn với một công chúa người Việt.“ [18, 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Tuy nhiên, chỉ yên ổn hơn 30 năm thì nội bộ quý tộc lại tranh giành gây mâu thuẫn trong hoàng gia, một bên theo Xiêm, một bên theo Việt. Trong quyển Chế độ Công đền công thổ trong lịch sử khẩn hoang lập ấp ở Nam kỳ lục tỉnh, Nguyễn Đình Đầu đã dẫn lại bài Mạc Cửu và Chúa Nguyễn ở Hà Tiên của Trần Kinh Hòa, trong tạp chí Văn hóa Á Châu, Và Phan Khoang, sđd, tr.423: “Nguyên Mạc Cửu là người châu Lôi tỉnh Quảng Đông, trước làm chủ thuyền buôn, kinh doanh lớn, thường lui tới Lữ Tống (đảo Lu-Zon của Phi-lip-pin), Chà Và (đảo Java của In-đô-nê-xi-a), Chân Lạp (Cam-pu-chia và Nam bộ ngày nay). Khi thấy nhà Minh hết hy vọng phục hưng đất nước từ tay thống trị người Mãn Thanh, Mạc Cửu sang ở hẵn Chân Lạp, khoảng năm 1680, và được nhận làm quan tại triều. Song chính quyền Chân Lạp lúc đó thường chia rẽ cạnh tranh nhau và bị nước Xiêm can thiệp dòm ngó, nên Mạc Cửu xin tới lập nghiệp trên cửa biển Pe1am (tức Phương Thành) thuộc tỉnh Kham (ta gọi là Màng Khảm).
Nơi đây thường có người buôn bán ngoại quốc tụ họp và chung quanh đã có lưu dân lác đác tới khẩn hoang. Mạc Cửu mở một sòng bạc để lấy sâu, mở phố xá, xây thành trên bờ biển và chiêu tập thêm lưu dân tới ở các nơi Phú Quốc, Lũng Kỳ (còn gọi Trũng Kè, Lũng Cả, Réam), Cần Bột (Campốt), Rạch Giá, Luống Cày, Hương Úc (tức Vũng Thơm hay Kompong-som) và Cà mau để lập thành 7 xã thôn. Tương truyền rằng ở Phương Thành có tiên thường hiện ra trên sông, nên mới đặt tên là Hà Tiên" [8], sau này có ý kiến cho rằng Mạc Cửu đặt tên Hà Tiên là do nổi nhớ mong quê hương mà thành. Nguyễn Đình Đầu cũng dẫn ở đoạn tiếp theo từ Hoàng Việt Giáp Tý niên biểu, Nguyễn Bá Trác phụng biên tập, Khải Định năm thứ 10 (1925) ấn hành, Bửu Cầm.
Trương Bửu Lâm phiên địch, Sài Gòn 1963, tr.303: “Tuy nhiên bọn cướp biển và chính quyền Xiêm thường tới đốt phá và quấy nhiễu Hà Tiên, nên muốn được sinh tồn, Mạc Cửu xin thần phục Chúa Nguyễn. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chúa Nguyễn Phúc Chu chấp thuận, trao cho Mạc Cửu chức Tổng binh và ấn thụ để tiếp tục cai quản Hà Tiên. Từ đó, tức năm 1708, Hà Tiên thuộc bản đồ Việt Nam, tuy ruộng đất thì đã do lưu dân khẩn hoang từ lâu trước nữa".[8] Mặc dù có nhiều biến cố tan tóc do quân Xiêm xâm lược gây nên vào thời đại dòng họ Mạc cai quản (1718, 1771 và 1833), nhưng các dân tộc anh em gồm Kinh, Hoa, Khmer, Philippin ở Hà Tiên vẫn tái lập, duy trì và phát triển vững bền cho đến ngày nay. Sự du nhập và phát triển của Phật giáo ở Hà Tiên - Sự du nhập và phát triển ".
người Ấn Độ - có lẽ đã đến đây từ đầu công nguyên - đã tham gia một phần tích cực vào sự phát triển kinh tế, văn hóa và chính trị của các quốc gia Phù Nam. Những người Ấn này có thể với những lý do và thời gian khác nhau, nhưng đa số chắc là thương nhân, những người tu hành, đã đến đây làm ăn sinh sống, truyền bá tôn giáo, đã gắn bó và đồng hóa với dân địa phương [18, tr. Về tôn giáo, nếu thời kỳ này chưa ăn sâu trong xã hội, thì ít nhất triều đình Phù Nam cũng đã tin theo đạo Phật. Bia Võ Cảnh đã nói lên điều đó [18, tr.
Sau thời kỳ kết tập kinh điển lần đầu vào thế kỷ IV, Phật giáo mới thật sự khởi sắc phát triển mạnh mẽ, Hệ phái Phật giáo Nam tông chính thức truyền thừa từ Ấn Độ sang, nhiều người kể từ đây vừa tin theo tín ngưỡng vừa tin theo đạo Phật. Đến thế kỷ XVII bắt đầu có sự bám rễ của hệ phái Phật giáo Bắc tông. Nhiều tư liệu chứng minh rằng, có nhiều vị sứ giả, nhà nghiên cứu phía Bắc đã đi qua đây và để lại nhiều tư liệu lịch sử có giá trị, rất tiếc không ai ở lại xây dựng niềm tin tôn giáo của mình ở nơi đây. Mạc Cửu là người đã dừng chân lập trấn và mang theo tín ngưỡng Trung Quốc và Phật giáo Bắc tông vào nơi này.
Cũng cùng thời kỳ này, có tài liệu minh chứng sự có mặt của một linh mục Công giáo đã có mặt tại đây nhưng không rõ đã làm gì và không có 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dấu tích để lại, Công giáo chỉ khởi sắc từ những năm 1960 về sau. Đến đầu thế kỷ XX dần xuất hiện các tôn giáo nội sinh là Phật giáo Hòa Hảo, Cao đài, Phật đường Nam tông Minh sư đạo, Tịnh độ cư sĩ. Riêng Phật giáo, các di tích để lại từ thời cận đại đến nay cho thấy Phật giáo ở Hà Tiên trong thế kỷ XVII có thể hình thành hai chùa, đó là chùa Thiên Trúc và chùa Phù Dung. Sang thế kỷ XVIII xuất hiện hai chùa, là chùa Tam Bảo và Tiên Sơn.
Từ thế kỷ XX xuất hiện đông đảo các chùa khác và các tôn giáo khác. Ở ngôi Thiên Trúc Tự, vào những năm 1960-1963, dưới thời trụ trì Pháp Kiên, trong lúc trùng tu lại ngôi chùa đã tìm thấy một số viên gạch ghi ký tự Khmer số 1616 dưới Bồ Đoàn, nơi pho tượng Phật lớn ngồi. Tượng Phật Lớn bên trong ngôi Chính điện là Phật Thích Ca ngồi trên Bồ Đoàn có gương mặt, dáng ngồi giống như các tượng Phật của Thái Lan được bảo tồn trong viện Bảo tàng tại Bangkok.