CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT VỀ LAO ĐỘNG VÀ CẦU LAO ĐỘNG 1.1 Nguồn lao động 1.1 Khái niệm Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động,có nguyện vọng tham gia lao động và những người trên độ tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. Về mặt chất lượng của nguồn nhân lực: chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế và đời sống của người dân trong một xã hội nhất định. Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện thông qua một hệ thống các chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêu chủ yếu sau: - Chỉ tiêu biểu hiên trạng thái sức khỏe của nguồn nhân lực: Sức khỏe là trang thái thoải mái về thể chất cũng như tinh thần của con người, và được biểu hiện thông qua nhiều chuẩn mực đo lường về chiều cao, cân nặng, các giác quan nội khoa,ngoại khoa…ngoài ra người ta còn sử dụng các chỉ tiêu như tỷ lệ sinh, chết, tỷ lệ tử vong của trẻ em, tỷ lệ thấp cân trẻ sơ sinh, tuổi thọ trung bình,cơ cấu giới, cơ cấu tuổi, mức GDP/đầu người… - Chỉ tiêu biểu hiện trình độ văn hóa của nguồn nhân lực: Chỉ tiêu này được đo lường thông qua các chỉ tiêu như số lượng và tỷ lệ biết chữ, số lượng và tỷ lệ người qua các cấp học như tiểu học, phổ thông cơ sở,trung học phổ thông, cao đẳng, đại học, trên đại học… - Trình độ văn hóa của nguồn nhân lực: Đây là chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lượng nguồn nhân lực và có tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển kinh tế xã hội.
Trình độ văn hóa cao tạo khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn. - Chỉ tiêu biểu hiện trình độ chuyên môn kỹ thuật nguồn nhân lực: Trình độ chuyên môn kỹ thuật là trạng thái hiểu biết, khả năng thực hành về một chuyên môn nghề nghiệp nào đó. Có thể phân làm hai loại: lao động đã qua đào tạo và 3 lao động chưa qua đào tạo. Về cơ cấu lao động được đào tạo có: cấp đào tạo (sơ cấp,trung cấp, cao cấp), công nhân kỹ thuật và cán bộ chuyên môn, trình độ đào tạo(cơ cấu bậc thợ, cơ cấu ngành nghề…) Thông qua chỉ tiêu trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực cho thấy năng lực sản xuất của con người trong ngành, trong một quốc gia, khả năng sử dụng khoa học hiện đại vào sản xuất.
Về mặt số lượng: nguồn nhân lực được đo thông qua chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số. Quy mô và tốc độ tăng dân số càng lớn thì quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngược lại. Tuy nhiên tác động của nó phải sau một khoảng thời gian nhất định mới có biểu hiên rõ vì con người phải phát triển đến một mức độ nhất định mới trở thành người có sức lao động, có khả năng lao động.3 Phân loại nguồn nhân lực Căn cứ nguồn gốc hình thành người ta chia ra 3 loại: - Nguồn nhân lực có sẵn trong dân số - Nguồn nhân lực tham gia hoạt động kinh tế - Nguồn nhân lực dự trữ Căn cứ vai trò của từng bộ phân nguồn nhân lực: - Nguồn lao động chính - Nguồn lao động phụ - Nguồn lao động bổ sung 1.4 Vai trò của nguồn lao động Nguồn lao động cung cấp sức lao động cho nền kinh tế, cùng với các đầu vào khác tạo ra sản phẩm cho nền kinh tế. Nguồn lao động còn giúp cho ta học tập và tiếp thu khoa học công nghệ, kỹ năng quản lý của người nước ngoài, là nhân tố thu hút đầu tư từ bên ngoài.2 Cầu lao động 1.1 Khái niệm Theo giáo trình kinh tế nguồn nhân lực: cầu lao động là lượng lao động mà người thuê có thể thuê ở mỗi mức giá có thể chấp nhận được.
Vấn đề cầu lao động rất gần gũi với vấn đề việc làm và người có việc làm, bởi một cách đơn giản nhất để dự báo cầu lao động là dựa vào con số người có việc làm trong các năm trước. Theo Bộ luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc làm là “ mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm”. Người có việc là những người từ đủ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động gồm: - Những người làm các công việc được trả công dưới dạng hiện vật hoặc bằng tiền để đổi công. - Những người tự làm công việc để thu lợi nhuận hoặc thu nhập cho bản thân và gia 4 đình.
- Những người làm các công việc sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong gia đình mình nhưng không hưởng tiền lương, tiền công. Cầu về lao động khác với lượng cầu vê lao động, cầu về lao động mô tả toàn bộ hành vi của người mua có thể mua được hàng hóa sức lao động ở mỗi mức giá hoặc ở tất cả các mức giá có thể đặt ra. Ở mỗi mức giá có một lượng cầu nhất định. Cầu lao động có thể được xác định thông qua số người có việc làm.
Người có việc làm là những người trong thời gian quan sát đang có việc trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được nhận tiền lương, tiền công hoặc lợi nhuận bằng tiền hay hiện vật hoặc làm các công việc sản xuất, kinh doanh cá thể, hộ gia đình hoặc đã có công việc làm nhưng đang trong thời gian tạm nghỉ việc và sẽ tiếp tục trở lại sau thời gian tạm nghỉ. Cầu lao động là cầu dẫn suất bởi lẽ nó được suy ra từ cầu về sản lượng mà lao động được dùng để sản xuất ra. Cầu về lao động phụ thuộc vào sản phẩm giá trị biên của lao động (MPVL). MPVL lại phụ thuộc vào các yếu tố khác như tài nguyên, vốn, kỹ thuật.
Trong điều kiện kinh tế Việt Nam, cầu về lao động được xác định ở mức giá cả thấp.2 Phân loại cầu lao động - Theo trình độ lao động: lao động có trình độ kỹ thuật cao, lao động lành nghề, lao động phổ thông - Theo ngành nghề: lao động trong khu vực nông lâm ngư nghiệp, lao động trong khu vực công nghiệp, lao động trong ngành dịch vụ. - Theo thành phần kinh tế: lao động trong khu vực quốc doanh, lao động trong khu vực kinh tế tư nhân, lao động trong khu vực kinh tế hộ gia đình, lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.3 Các nhân tố tác động đến cầu về lao động a. Tăng trưởng kinh tế - Khái niệm tăng trưởng kinh tế: Một trong những mục tiêu quan trọng nhất mà mọi quốc gia trên thế giới đều theo đuổi là duy trì mức tăng trưởng kinh tế thích hợp. Nhận thức đúng đắn về tăng trưởng kinh tế và sử dụng có hiệu quả những kinh nghiệm về nghiên cứu, hoạch định chính sách tăng trưởng kinh tế là rất quan trọng.
Các nhà khoa học đều thống nhất cho rằng, tăng trưởng kinh tế trước hết là một vấn đề kinh tế, song nó còn mang tính chính trị, xã hội sâu 5 sắc. Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập hay sản lượng thực tế được tính cho toàn bộ nền kinh tế (của một quốc gia, một vùng hay một ngành) trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm. Tăng trưởng kinh tế có thể biểu thị bằng số tuyệt đối (quy mô tăng trưởng) hoặc số tương đối (tỷ lệ tăng trưởng). Trong phân tích kinh tế, để phản ánh mức độ mở rộng quy mô của nền kinh tế, khái niệm tốc độ tăng trưởng kinh tế thường được dùng.
Đây là tỷ lệ phần trăm giữa sản lượng tăng thêm của thời kỳ nghiên cứu so với mức sản lượng của thời kỳ trước đó hoặc thời kỳ gốc. - Các thước đo tăng trưởng kinh tế: Đứng trên góc độ toàn nền kinh tế, thu nhập hay sản lượng thường được thể hiện dưới dạng giá trị: có thể là tổng giá trị thu nhập (sản lượng), hoặc có thể là thu nhập (sản lượng) bình quân trên đầu người. Các chỉ tiêu giá trị phản ánh tăng trưởng theo hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) bao gồm: tổng giá trị sản xuất (GO); tổng sản phẩm quốc nội (GDP); tổng thu nhập quốc dân (GNI); thu nhập quốc dân (NI); tổng thu nhập được quyền chi (GDI); trong đó chỉ tiêu GDP thường là chỉ tiêu quan trọng nhất và được sử dụng phổ biến nhất. + Tổng giá trị sản xuất (GO): Tổng giá trị sản xuất là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo nên trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định.
+ Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tổng sản phẩm quốc dân (GNP): Tổng sản phẩm quốc nội đo lường tổng giá trị của các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). GDP có thể có nhiều cách tính khác nhau dưới các góc độ: sản xuất, tiêu dùng và phân phối. + Tổng thu nhập quốc dân (GNI): GNI về nội dung thì GNP và GNI là như nhau. Tuy nhiên GNI tiếp cận dưới góc độ từ thu nhập chứ không phải dưới góc độ sản phẩm sản xuất như GNP.
+ Thu nhập bình quân đầu người: Để đánh giá xác thực hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia dưới góc độ mức sống dân cư, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu bình quân đầu người, chẳng hạn như GDP bình quân đầu người (hay GNI bình quân đầu người). Khi đó, tốc độ tăng trưởng lại 6 phụ thuộc hai yếu tố: tốc độ tăng trưởng thu nhập (sản lượng) và tốc độ tăng trưởng dân số. Đầu tư - Khái niệm đầu tư: Đầu tư là sự gia tăng thêm vốn/tư bản vào sản xuất hay nền kinh tế nhằm tăng năng lực sản xuất và được huy động dưới dạng vật chất là tiền và hiện vật như máy móc, thiết bị, nhà xưởng,. Cũng như lao động, đầu tư là một trong các nhân tố đầu vào cơ bản, không thể thiếu được trong sản xuất nói riêng hay trong hoạt động kinh tế nói chung, thiếu đầu tư sản xuất không phát triển, số lao động có việc làm không tăng, kinh tế cả nước vì thế mà trì trệ.