CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Một số khái niệm liên quan Trên cơ sở các công trình nghiên cứu của các tác giả, tổ chức trong và ngoài nước, luận án đề cập đến một số khái niệm nhằm làm rõ thêm cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu. - Khái niệm nguồn nhân lực Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực.
Theo tổ chức Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) cho rằng “nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” [226, tr. Ngân hàng thế giới (WB) cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người được thể hiện thông qua thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân, có thể tham gia lao động, sản xuất một cách trực tiếp hoặc tiềm năng [228, tr. Trong khi đó, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) nêu quan niệm nguồn nhân lực theo hai nghĩa: Nghĩa rộng, nguồn nhân lực là bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường, họ là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội; Nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, là tổng thể các yếu tố thể lực và trí lực được huy động vào quá trình sản xuất xã hội [208]. Dưới góc độ kinh tế phát triển, Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh (2012) trong “Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực” [74] cho rằng “nguồn nhân lực là nguồn lực con người.
Nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người. Thứ hai, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân con người.
Với tư cách là một nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [74, tr. Cuốn “Giáo trình nguồn nhân lực” của Nguyễn Tiệp, cũng đồng nhất với quan điểm trên, tuy nhiên tác giả còn cho rằng, trong nền kinh tế hiện đại, nguồn nhân lực nên được nhìn nhận ở phạm vi rộng lớn hơn, bao gồm các nội dung án tiến sĩ Hóa học 11 như: giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng cuộc sống, phân bố, sử dụng, quản lý [170, tr. Trên cơ sở đó, có thể hiểu theo nghĩa chung nhất: Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, là tổng thể số lượng, chất lượng, cơ cấu dân cư của một quốc gia, lãnh thổ, có khả năng huy động tham gia vào quá trình lao động, sản xuất xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. - Khái niệm phát triển nguồn nhân lực Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, các nhà nghiên cứu, quản lý, các tổ chức và quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến sự phát triển nguồn nhân lực, tạo ra đội ngũ nhân lực chất lượng có trình độ cao, có khả năng tiếp cận tri thức, công nghệ mới để ứng dụng vào thực tiễn.
Một số công trình nghiên cứu nước ngoài như cuốn “The handbook of human resource development” (Cẩm nang về phát triển nguồn nhân lực), tác giả Leonard Nadlerin (1984) đã đưa ra quan niệm: “Phát triển nguồn nhân lực là các kinh nghiệm học tập có tổ chức được diễn ra trong những khoảng thời gian nhất định nhằm tăng khả năng cải thiện kết quả thực hiện công việc, tăng khả năng phát triển của tổ chức và cá nhân” [213, tr. Gilley cùng cộng sự (2002) trong cuốn “Principles of human resource development” (Nguyên lý phát triển nguồn nhân lực) cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực là quá trình thúc đẩy việc học tập có tính tổ chức, nâng cao kết quả thực hiện công việc, và tạo ra thay đổi thông qua việc tổ chức thực hiện các giải pháp (chính thức và không chính thức), các sáng kiến và các hoạt động quản lý nhằm mục đích nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức, khả năng cạnh tranh và đổi mới” [212, tr. Ở Việt Nam, Bùi Văn Nhơn trong cuốn “Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội” có quan điểm khác: “Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực (trí tuệ, thể chất, và phẩm chất tâm lý xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Trong đó, thể lực của nguồn nhân lực là sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần.
Trí lực của nguồn nhân lực là trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động án tiến sĩ Hóa học 12 thực hành của người lao động. Phẩm chất tâm lý xã hội là kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong công nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao. Tiếp thu các quan điểm trên, luận án cho rằng, phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các chính sách, hình thức, phương pháp và biện pháp nhằm nâng cao về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời phân bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất nguồn nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội. - Khái niệm công nghệ thông tin Khái niệm “công nghệ thông tin” lần đầu tiên xuất hiện trong bài báo "Management in the 1980s" (Quản lý trong những năm 1980), xuất bản năm 1958 trên Tạp chí “Harvard Business Review” (Kinh doanh Harvard).
Trong đó, tác giả Harold J. Leavitt và Thomas L. Whisler nhận xét rằng công nghệ mới vẫn chưa có một cái tên riêng. Chúng ta sẽ gọi nó là CNTT (tiếng Anh: Information Technology, viết tắt là IT).
Tác giả cho rằng, CNTT gồm ba loại: kỹ thuật xử lý, áp dụng các phương pháp thống kê và toán học để ra quyết định và mô phỏng tư duy bậc cao thông qua các chương trình máy tính [207]. Ở Việt Nam, trước năm 1991, khái niệm “công nghệ thông tin” chưa được sử dụng phổ biến. Trong luận án của Đỗ Hoàng Ánh (2016) “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển CNTT từ năm 1986 đến năm 2010”, tác giả cho rằng, trước năm 1991, thuật ngữ CNTT được hiểu rất khác nhau như: “tin học”, “điện tử và tin học”, “máy tính và tin học”, “tin học hóa”, “hệ thống thông tin kinh tế và khoa học, kỹ thuật”, “hệ thống thông tin”, “công nghiệp điện tử - tin học - bưu chính viễn thông”… [20, tr. Năm 1991, thuật ngữ “công nghệ thông tin” được sử dụng thông tin khoa học công nghệ và lần đầu tiên được định nghĩa trong Nghị quyết Chính phủ số 49/CP ký ngày 04/08/1993: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội" [76].
Kể từ năm 1993, thuật ngữ “công nghệ thông tin” từng bước được phổ biến sử dụng trong các văn kiện của Đảng, các văn bản của Nhà nước và trong xã hội. án tiến sĩ Hóa học 13 Thuật ngữ “Công nghệ thông tin” cũng được quy định tại điều 4, Luật Công nghệ thông tin (năm 2006): “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số” [137]. Đây cũng là khái niệm được luận án sử dụng trong nghiên cứu, triển khai đề tài. - Khái niệm công nghệ thông tin và truyền thông Với sự ra đời của Internet và mạng truyền thông ngày càng phát triển, từ đầu thế kỷ XXI đến nay, khái niệm công nghệ thông tin và truyền thông đã ra đời.
Công nghệ thông tin và truyền thông (tiếng Anh: Information and Communications Technologies, viết tắt là ICT), được tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) định nghĩa “là các dạng công nghệ được sử dụng để truyền, xử lý, lưu giữ, tạo, trình bày, chia sẻ hay trao đổi thông tin bằng các phương tiện điện tử” [248]. Các công nghệ ở đây bao gồm radio, tivi, video, DVD, điện thoại (cả điện thoại cố định và di động), hệ thống vệ tinh, máy vi tính và phần cứng, phần mềm mạng cùng với tất cả các thiết bị, dịch vụ liên quan đến các công nghệ này như e-mail (thư điện tử), blog (trang viết cá nhân trên mạng), hội nghị qua mạng… [248]. Có thể thấy, khái niệm công nghệ thông tin và truyền thông rộng hơn rất nhiều so với khái niệm CNTT. Việc “rộng” hơn ở đây là rộng hơn về phương tiện.
Mặc dù hai khái niệm có phạm vi khác nhau, nhưng trong xu thế hiện nay, các cơ quan, tổ chức và các nhà nghiên cứu cũng không tập trung phân biệt hai thuật ngữ này. Các văn bản pháp quy của Nhà nước Việt Nam cũng đang sử dụng thuật ngữ “Công nghệ thông tin” theo nghĩa như “Công nghệ thông tin và truyền thông”. Trên cơ sở đó, luận án cũng không tập trung phân biệt hai thuật ngữ, mà sử dụng khái niệm chung là CNTT. - Khái niệm nguồn nhân lực CNTT và phát triển nguồn nhân lực CNTT Luận án sử dụng khái niệm nguồn nhân lực CNTT và phát triển nguồn nhân lực CNTT theo Quyết định số 05/2007/QĐ-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông, ngày 26/10/2007 về “Phê duyệt Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực CNTT Việt Nam đến năm 2020” [44] và Quyết định số 698/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính án tiến sĩ Hóa học 14 phủ, ngày 01/06/2009 về “Phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020” [159].
Theo đó, “nguồn nhân lực CNTT là nhân lực làm công tác đào tạo về CNTT, điện tử, viễn thông; nhân lực chuyên nghiệp về CNTT, điện tử, viễn thông làm trong các doanh nghiệp và công nghiệp; nhân lực cho ứng dụng CNTT của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; cán bộ, viên chức và mọi người dân sử dụng, ứng dụng CNTT” [159, tr.