phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mẫu phiếu hỏi, kết cấu luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác quản trị nguồn nhân lực trong tổ chức công. Chƣơng 2: Thực trạng về công tác quản trị nguồn nhân lực tại UBND huyện Cẩm Giàng. Chƣơng 3: Một số giải pháp để hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại UBND huyện Cẩm Giàng. 6 z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC CÔNG 1.
Nguồn nhân lực trong tổ chức công 1. Khái niệm, vai trò nguồn nhân lực trong tổ chức công 1. Nguồn nhân lưc Nhân lực là sức lực con ngƣời, nằm trong mỗi con ngƣời và làm cho con ngƣời hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể và đến một mức độ nào đó, con ngƣời có đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động- con ngƣời có sức lao động.
Nguồn nhân lực chính là con ngƣời. Theo quy định của Bộ Luật Lao động Việt Nam, nguồn nhân lực là ngƣời có khả năng lao động ở độ tuổi từ 15 đến 60 đối với nam và từ 15 đến 55 tuổi đối với nữ. Tổ chức công Tổ chức là sự sắp xếp có hệ thống những ngƣời đƣợc nhóm lại và hoạt động với nhau để đạt đƣợc mục tiêu cụ thể. Tổ chức công gồm: cơ quan hành chính Nhà nƣớc ở Trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã, các đơn vị sự nghiệp của Nhà nƣớc và các doanh nghiệp Nhà nƣớc.3 Nguồn nhân lực trong tổ chức công Theo quy định của Luật Cán bộ công chức năm 2008, thì nguồn nhân lực trong khu vực Nhà nƣớc là các cán bộ, công chức, viên chức và ngƣời lao động làm việc trong tổ chức công.
Cán bộ, là công dân Việt nam, đƣợc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị xã hội ở trung ƣơng, ở cấp tỉnh, cấp huyện, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. 7 z Công chức là công dân Việt nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị xã hội ở trung ƣơng, ở cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị- xã hội, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lƣơng đƣợc bảo đảm từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Cán bộ cấp xã là công dân Việt nam đƣợc bầu cử, giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thƣờng trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Bí thƣ, Phó Bí thƣ Đảng uỷ, ngƣời đứng đầu tổ chức chính trị- xã hội. Công chức cấp xã là công dân Việt nam đƣợc tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc.
Ngƣời lao động là công dân Việt nam làm việc trong cơ quan Nhà nƣớc theo hình thức hợp động lao động có thời hạn.4 Vai trò của nguồn nhân lực trong tổ chức công Nguồn nhân lực là nguồn lực có ý thức. Nguồn nhân lực trong mỗi tổ chức nói chung và trong tổ chức công nói riêng có vai trò quan trọng, quyết định đến sự tồn tại, phát triển của tổ chức. Nguồn nhân lực là yếu tố chủ yếu tạo thuận lợi cho tổ chức, là nguồn lực mang tính chiến lƣợc và là nguồn lực vô tận. Đặc biệt trong tổ chức công các yếu tố nguyên liệu, vốn, máy móc, trang thiết bị, công nghệ có vai trò nhỏ chính vì thế sự phát triển của tổ chức công phần lớn dựa vào sự phát triển nguồn nhân lực và ngƣợc lại.
Đặc điểm nguồn nhân lực trong tổ chức công Là công dân Việt nam, mang một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam. Theo quy định của Luật Quốc tịch năm 2008 đã có sửa đổi và cho phép công dân Việt nam đƣợc mang nhiều quốc tịch nhƣng hoạt động công vụ là hoạt động nhân danh quyền lực nhà nƣớc, thực thi và thừa hành pháp luật, bảo vệ lợi ích của nhân dân, xã hội và quốc gia. Vì vậy, nhất thiết công chức Việt nam tham gia vào công vụ phải là công dân Việt nam và chỉ mang một quốc tịch là quốc tịch Việt nam. Luật không cho phép vừa mang quốc tịch Việt nam vừa mang quốc tịch của nƣớc khác.
Đây cũng là quy định chung ở các quốc gia trên thế giới. Theo quy định của Bộ Luật Lao động của Việt Nam thì nguồn nhân lực là những ngƣời có độ tuổi từ 15 tuổi trở lên, nhƣng là cán bộ, công chức, viên chức phải là ngƣời đủ 18 tuổi trở lên. Trong quy định về tuyển dụng công chức, áp dụng từ năm 2008 thì ngƣời dự tuyển phải có độ tuổi từ đủ 18 tuổi trở lên là điểm mới. Trƣớc đây, pháp luật quy định tuổi đăng ký tuyển công chức từ đủ 18 tuổi đến 40 tuổi.
Quy định nhƣ vậy là nhằm bảo vệ quyền lợi cho ngƣời tham gia vào công chức khi đến tuổi đƣợc nghỉ chế độ, nhƣng nó đã hạn chế cơ hội của công dân, không tạo điều kiện thu hút đƣợc ngƣời có tài năng từ khu vực tƣ tham gia vào công vụ. Đến nay, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2008 đã có sử đổi, bổ sung, theo đó, bên cạnh hình thức bảo hiểm bắt buộc, đã có thêm hình thức bảo hiểm tự nguyện. Do đó Luật Cán bộ, công chức chỉ quy định độ tuổi tuyển dụng ở mức sàn là đủ 18 tuổi trở nên mà không khống chế độ tuổi tuyển dụng mở mức trần, miễn là còn trong độ tuổi lao động. Điều kiện này có nghĩa là nếu còn trong độ tuổi lao động và trên 18 tuổi thì mọi công dân có đủ điều kiện quy định đều có cơ hội tham gia vào công vụ.
Đủ sức khoẻ công tác: tiêu chuẩn này nhiều khi chƣa đƣợc chú trọng đúng mức và thống nhất trong cách hiểu. Đây là tiêu chuẩn nhƣng cũng đồng thời là 9 z điều kiện để tham gia công vụ. Sức khoẻ không chỉ đơn thuần liên quan đến ốm đau, bệnh tật, mà trong đó còn bao hàm cả khía cạnh tâm lý, tinh thần. Không ai có thể hoàn thành tốt công vụ khi luôn ở trạng thái không cân bằng về tâm lý và mất ổn định về tinh thần.
Ở nhiều nƣớc, ngƣời dự tuyển công chức khi nộp hồ sơ dự tuyển không phải nộp giấy khám sức khoẻ của cơ quan y tế. Ngƣời ta chỉ kiểm tra sức khoẻ đối với ngƣời đã trúng tuyển (ngƣời đã đạt kết quả qua các vòng thi trƣớc). Việc kiểm tra sức khoẻ đƣợc coi nhƣ vòng cuối cùng của nội dung thi tuyển. Nếu không bảo đảm sức khoẻ sẽ không đƣợc tuyển dụng, mặc dù đã trúng tuyển qua các vòng trƣớc.
Quy định nhƣ thế góp phần giảm thiểu thủ tục hành chính, giấy tờ và tiết kiệm thời gian của nhiều ngƣời- đây cũng là vấn đề mà Việt nam có thể tham khảo. Trong quá trình tham gia công vụ, nếu không đủ sức khoẻ thì công chức có thể xin thôi việc hoặc chuyển sang làm việc ở các khu vực phù hợp. Đƣợc cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc hợp đồng lao động, đƣợc xếp vào một ngạch, bậc nhất định và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Đây là đặc điểm cơ bản nhất của cán bộ công chức.
Do cán bộ, công chức là một nghề đặc thù nên đỏi hỏi mỗi cán bộ, công chức phải lập trƣờng, tƣ tƣởng vững vàng, kiên định đối với đƣờng lối đổi mới của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tuyệt đối trung thành với mục đích, lý tƣởng của Đảng, đặt lợi ích của tổ quốc, lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên lợi ích cá nhân; Chấp hành nghiêm quan điểm, chủ trƣơng, đƣờng lối, nghị quyết và chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc, chấp hành tuyệt đối sự phân công của Đảng và của cơ quan Nhà nƣớc Bên cạnh các đặc điểm chung nói trên, căn cứ vào từng ngành, từng lĩnh vực của hoạt động công vụ, công chức phải đạt đƣợc tiêu chuẩn cụ thể tƣơng ứng với mỗi vị trí công tác. Để đảm bảo hiệu quả của hoạt động công vụ, mỗi cán bộ công chức phải đạt đƣợc các yêu cầu cụ thể phù hợp với mỗi vị trí cụ thể. Mỗi vị 10 z trí thƣờng đƣợc xác định tƣơng ứng với một ngạch chức danh hoặc một chức vụ cụ thể, nhất định. Mỗi ngạch và chức vụ có quy định tiêu chuẩn về phẩm chất, trình độ, năng lực gắn với chức trách, nhiệm vụ cụ thể.
Nếu ngƣời đƣợc bố trí vào công vụ không đáp ứng đƣợc tiêu chuẩn của ngạch hoặc chức vụ quản lý thì không thể hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của vị trí đảm nhiệm. Quản trị nguồn nhân lực trong tổ chức công 1. Khái niệm, đặc điểm quản trị nguồn nhân lực trong tổ chức công 1. Khái niệm * Quản trị nguồn nhân lực Khái niệm quản trị nguồn nhân lực đƣợc trình bầy theo nhiều góc độ khác nhau nhƣ: Ở góc độ tổ chức quá trình lao động: quản trị nguồn nhân lực là lĩnh vực theo dõi, hƣớng dẫn, điều chỉnh, kiểm tra sự trao đổi chất (năng lƣợng, thần kinh, bắp thịt) giữa con ngƣời với các yếu tố vật chất của tự nhiên (công cụ lao động, đối tƣợng lao động, năng lƣợng) trong quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần để thoả mãn nhu cầu của con ngƣời và xã hội nhằm duy trì, bảo vệ và phát triển tiềm năng của con ngƣời.
Với tƣ cách là một trong các chức năng cơ bản của quá trình quản trị: Quản trị nguồn nhân lực bao gồm từ hoạch định, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát các hoạt động liên quan đến việc thu hút, sử dụng và phát triển ngƣời lao động trong tổ chức. Đi sâu vào chính nội dung hoạt động của quản trị nguồn nhân lực thì quản trị nguồn nhân lực là việc tuyển dụng, sử dụng, duy trì và phát triển cũng nhƣ cung cấp các tiện nghi cho ngƣời lao động trong tổ chức.