Phần mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan về dự báo Chƣơng 2: Ứng dụng mạng nơ ron trong dự báo lạm phát kinh tế Chƣơng 3: Xây dựng ứng dụng dự báo lạm phát sử dụng mô hình mạng nơ ron Kết luận và hƣớng phát triển 10 download by : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỰ BÁO Trong chƣơng này trình bày các khái niệm cơ bản về dự báo, phân loại dự báo trong kỳ ngắn hạn, dài hạn và tầm quan trọng của dự báo trong phát triển kinh tế của quốc gia. Trong chƣơng 1 này cũng giới thiệu một số các phƣơng pháp sử dụng trong dự báo nhƣ mô hình kinh tế lƣợng, mô hình Time Series,.các phƣơng pháp đánh giá và thử nghiệm trong các bài toán dự báo.1 Khái niệm về dự báo Dự báo đã hình thành từ đầu những năm 60 của thế kỉ 20. Khoa học dự báo với tƣ cách là một ngành khoa học độc lập có hệ thống lí luận, phƣơng pháp luận và phƣơng pháp hệ riêng nhằm nâng cao tính hiệu quả của dự báo. Dự báo là một khoa học và nghệ thuật tiên đoán những sự việc sẽ xảy ra trong tƣơng lai, trên cơ sở phân tích khoa học về các dữ liệu đã thu thập đƣợc.
Khi tiến hành dự báo cần căn cứ vào việc thu thập, xử lý số liệu trong quá khứ và hiện tại để xác định xu hƣớng vận động của các hiện tƣợng trong tƣơng lai nhờ vào một số mô hình toán học (Định lƣợng). Tuy nhiên dự báo cũng có thể là một dự đoán chủ quan hoặc trực giác về tƣơng lai (Định tính) và để dự báo định tính đƣợc chính xác hơn, ngƣời ta cố loại trừ những tính chủ quan của ngƣời dự báo[1]. Tiên đoán đƣợc coi là một hình thức phản ánh vƣợt trƣớc về thời gian hiện thực khách quan, đó là kết quả nhận thức chủ quan của con ngƣời dựa trên cơ sở nhận thức quy luật khách quan trong sự vận động và phát triển của sự vật và hiện tƣợng. Tiên đoán gồm 03 loại khác nhau: tiên đoán có căn cứ khoa học, tiên đoán không khoa học và tiên đoán dựa trên kinh nghiệm.
11 download by : skknchat@gmail.com Do nó chỉ là một tuyên bố về tƣơng lai, bất cứ điều gì đều có thể dự báo ví dụ tỷ lệ lạm phát giá tiêu dùng, thời tiết ngày mai hoặc của tháng tiếp theo, mức tăng trung bình của mực nƣớc biển vào cuối thiên niên kỷ thứ ba, dân số của trái đất vào 10 năm tới hay giá trị của chỉ số Dow Jones tại bắt đầu năm 2010. Các kết quả dự báo đƣợc coi là hữu ích trong việc xem xét để ra quyết định với sai số có thể chấp nhận đƣợc.2 Dự báo kinh tế Tƣơng lai của kinh tế, sẽ đƣợc quyết định bởi hành vi của con ngƣời trong tƣơng lai. Nó có thể đƣa ra những gợi ý cho việc ra quyết định trong tƣơng lai của các nhà kinh tế, các nhà đầu tƣ, hay Chính phủ của quốc gia. Dự báo kinh tế ngày càng đƣợc Chính phủ các nƣớc coi trọng và coi nhƣ là một lĩnh vực giúp cho sự phát triển của nền kinh tế đất nƣớc.
Nhờ có dự báo, nhiều những hoạt động kinh tế tránh đƣợc rủi ro đánh kể. Ví dụ, dự báo năm 1987 hoạt động kinh tế tại Hoa Kỳ khi các nhà phân tích tiên đoán chính xác rằng giá trị trao đổi của đồng USD sẽ giảm mạnh trong năm, chi tiêu tiêu dùng sẽ chậm lại, và rằng lãi suất sẽ tăng vừa phải. Dựa vào những tiên đoán đó, mà Chính phủ có thể vận hành hoặc điều tiết nền kinh tế theo một chiều hƣớng tốt hơn [9].2 [Dự báo kinh tế] Dự báo kinh tế là quá trình dự đoán trước về một sự kiện xảy ra đối với nền kinh tế có thể là toàn bộ hoặc một phần. Dự báo kinh tế thường sử dụng dựa trên khoa học hoặc kinh nghiệm.
Dự báo kinh tế có thể đƣợc thực hiện rất chi tiết hoặc có thể là rất chung chung. Trong mọi trƣờng hợp, dự báo giúp con ngƣời mô tả các hành vi tƣơng lai dự kiến của tất cả hoặc một phần của nền kinh tế và giúp hình thành cơ sở của quy hoạch. Dự báo kinh tế xuất phát từ mô hình - thƣờng là của nền kinh tế quốc gia hay của toàn bộ thế giới, nhƣng đôi khi các bộ phận của nền kinh tế: đặc biệt là lĩnh vực công nghiệp, các khu vực trên thế giới, hoặc thậm chí các sản phẩm đơn lẻ hoặc các công ty, phƣơng pháp tiếp cận cơ bản để dự báo chỉ đơn giản là suy luận quá khứ; 12 download by : skknchat@gmail.com Lúc này, mô hình phức tạp thƣờng hơn dựa trên phân tích đƣợc dữ liệu từ quá khứ và sử dụng chúng trong dự báo. Vì thế, khi suy luận cần đòi hỏi kiến thức về lịch sử kinh tế và các nguyên tắc kinh tế, mặc dù, thậm chí sau đó, dự báo là do không có nghĩa là một con số chính xác, tuy nhiên, nó có thể là căn cứ đƣa ra những quyết định lớn về kinh tế để giảm thiểu những thiệt hại xảy ra với toàn bộ hoặc một phần của nền kinh tế, thậm chí đối với các doanh nghiệp[9].
Nhiều nhà kinh tế cho rằng những thay đổi trong cung tiền xác định tỷ lệ tăng trƣởng của hoạt động kinh doanh nói chung. Những ngƣời khác đóng vai trò trung tâm để đầu tƣ vào cơ sở mới nhà ở, nhà máy công nghiệp, đƣờng cao tốc, và vv. Tại Hoa Kỳ, nơi mà ngƣời tiêu dùng chiếm một phần lớn trong hoạt động kinh tế, một số nhà kinh tế cho rằng quyết định của ngƣời tiêu dùng để đầu tƣ hoặc lƣu cung cấp các manh mối chính cho các sự kiện tƣơng lai của toàn bộ nền kinh tế. Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, họ cần đƣợc biết hoặc tiên nghiệm đƣợc những sự kiện sắp xảy ra đối với nền kinh tế vĩ mô, từ đó họ có thể có những hoạt động phù hợp nhằm thúc đẩy hoặc phòng ngừa những rủi ro xảy ra.
Thiệt hại của doanh nghiệp cũng chính là thiệt hại của nền kinh tế, nó làm suy giảm GDP của một đất nƣớc. Bởi thế, những nhà đầu tƣ muốn có một công cụ, phƣơng pháp đánh giá sự phát triển kinh tế của một quốc gia, một vùng hoặc một nhóm ngành có thể có những quyết định dựa trên những diễn biến kinh tế mới nhất [7],[10].1 Phân loại dự báo kinh tế Tùy theo mục đích, hình thức mà dự báo kinh tế đƣợc phân loại khác nhau [9], [10]. - Theo quy mô: dự báo kinh tế có thể phân loại thành dự báo vĩ mô và dự báo vi mô. + Dự báo vĩ mô đƣợc xem nhƣ dự báo có liên quan đối với toàn bộ nền kinh tế.
Nó đƣợc đo bằng chỉ số của sản xuất công nghiệp, thu nhập quốc dân hoặc chi 13 download by : skknchat@gmail. Ví dụ: dự báo lạm phát, dự báo xu hƣớng xuất nhập khẩu, dự báo GNI quốc gia,. + Dự báo vi mô thƣờng tập trung trong doanh nghiệp, ví dụ dự báo xu hƣớng của ngƣời tiêu dùng trong tháng tới để các doanh nghiệp có thể dễ dàng nắm bắt đƣợc nhu cầu và thị hƣớng của ngƣời tiêu dùng để cung cấp dịch vụ thích hợp. - Theo thời hạn: dự báo đƣợc phân loại thành dự báo ngắn hạn hoặc dự báo dài hạn.
+ Dự báo ngắn hạn: trong một dự báo ngắn hạn, mô hình theo mùa đƣợc xem là quan trọng nhất. Nó có thể bao gồm một khoảng thời gian ba tháng, sáu tháng hoặc một năm. Nó có chu kỳ theo mùa vụ. + Dự báo dài hạn: hữu ích trong việc lập kế hoạch.
Nó cung cấp thông tin cho các quyết định chiến lƣợc quan trọng. Nó giúp tiết kiệm lãng phí về vật liệu, nhân lực, thời gian và năng lực.2 Mô hình bài toán dự báo kinh tế Dự báo là một trong những yếu tố cần thiết để lập kế hoạch, cho dù dự báo vi mô, hoặc vĩ mô. Mô hình một bài toán dự báo đƣợc mô tả nhƣ hình dƣới đây [9]. 14 download by : skknchat@gmail.1: Mô hình một bài toán dự báo Mô hình dự báo trong hình trên bao gồm 2 pha: - Xây dựng mô hình (model building): + Dữ liệu quá khứ: chi phí cho thu thập dữ liệu thƣờng đƣợc coi là "đắt".
Dữ liệu phải đảm bảo độ tin cậy mới có thể tạo ra một kết quả và chứng minh độ chính xác của mô hình đã xây dựng. Mỗi một mô hình dự báo cần thiết có sự đánh giá của con ngƣời. + Đặc tả mô hình: đây là quá trình xác định các biến sử dụng trong khi xây dựng mô hình. + Ƣớc lƣợng mô hình: ƣớc lƣợng các hệ số của mô hình.
+ Kiểm tra sự phù hợp của mô hình: kiểm tra sự phù hợp của mô hình và dữ liệu nhập vào. - Dự báo: + Dữ liệu kiểm tra: là dữ liệu cần quan sát kết quả. 15 download by : skknchat@gmail.com + Dự báo: sinh ra dự báo dựa trên mô hình đã xây dựng ở pha 1 và dữ liệu cần sinh ra dự báo. + Tính ổn định: mô hình đƣa ra kết quả có sai số nhiều so với chuyên gia dự báo hay không? 1.3 Một số mô hình dự báo Có một số các mô hình dự báo nhƣ sau: - Mô hình dự báo cơ bản: Mô hình dự báo cơ bản bao gồm: một số yếu tố đầu vào (dữ liệu) và giả định mô hình.
Một dự báo đƣợc tạo ra một số biến. Trong ví dụ của dự báo bán hàng, đầu vào có thể là số lƣợng ngƣời bán hàng, các giả định có thể bao gồm năng suất và số giờ làm việc, dự báo là kỳ vọng số doanh thu dự kiến cho các yếu tố đầu vào và giả định. Với mỗi dự báo, quan trọng là để quản lý quá trình thông qua sự so sánh của các biến liên quan để dự báo và sau đó làm việc trở lại thông qua các mô hình để giải thích lý do. Dữ liệu Mô hình Dự báo đầu vào dự báo Giả thiết Hình 1.2: Mô hình dự báo cơ bản - Mô hình dự báo nhân quả: Mô hình dự báo nhân quả sử dụng một số đầu vào cụ thể để dự báo một số đối tƣợng khác.
Ví dụ, có thể xây dựng một mô hình nhân quả để dự báo doanh thu (sản lƣợng) dựa trên số lƣợng ngƣời bán hàng (một đầu vào). Đây là loại mô hình đƣợc thể hiện trong sơ đồ trên. 16 download by : skknchat@gmail.com Giá trị thực tế Quản lý lặp Phản hồi Độ lệch Dữ liệu Mô hình Kết quả đầu vào dự báo dự báo Giả thiết Hình 1.