PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Giảng dạy được cho là một trong những nghề căng thẳng nhất ở nhiều quốc gia (Burak & Atabek, 2019). Vấn đề căng thẳng và kiệt sức đối với nghề dạy học đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm; bởi vì giáo viên đóng một vai trò quan trọng trong việc thành công và phát triển của học sinh trong cả hiện tại và tương lai (Hattie, 2009, 2012).
Việc đưa học sinh khuyết tật vào lớp học bình thường là một trong những yếu tố góp phần tạo ra căng thẳng cho giáo viên (Horenstein, 2006). Bởi vì, cùng một lúc giáo viên phải đối mặt với nhiều yếu tố gây căng thẳng (Jennett, Harris, & Mesibov, 2003) như: khối lượng công việc tăng lên, các mối quan hệ trong công việc không thuận lợi, trục trặc thể chế, sự bất bình đẳng trong nhận thức, thiếu sự công nhận, thiếu hỗ trợ xã hội và các nguồn lực khác (Burke và cộng sự 1996). Một trong những yếu tố tiếp theo đã được xác định góp phần vào sự căng thẳng của giáo viên đó là việc phải đối phó với các hành vi có vấn đề của học sinh trong lớp học mà giáo viên đang giảng dạy (Hamama và cộng sự, 2013). Việc đưa học sinh tự kỷ vào lớp học hòa nhập đòi hỏi giáo viên phải thực hiện những thay đổi quan trọng về cơ cấu (ví dụ: tổ chức vị trí ngồi, thiết kế bài giảng, quản lý lớp học…) điều này làm tăng đáng kể khối lượng công việc của họ.
Những yếu tố căng thẳng của giáo viên đôi khi là do thiếu đào tạo về kiến thức, thiếu năng lực ứng phó với trẻ khuyết tật và cả sự nhìn nhận cá nhân đối với trẻ (Busby, Ingram, Bowron, Oliver, & Lyons, 2012). Tất cả những yếu tố này đã được Wisniewski & Gargiulo (1997) khẳng định rằng giáo viên trong lớp học có trẻ tự kỷ học hòa nhập thì mức độ căng thẳng cao hơn so với giáo viên trong lớp học bình thường khác. Khi số lượng học sinh mắc tự kỷ tăng lên, nhu cầu về giáo viên có hiểu biết các đặc điểm riêng biệt liên quan đến chứng tự kỷ cũng cần được nâng cao. Bởi vì, giáo viên là những người trực tiếp tiếp xúc, can thiệp cho trẻ dựa trên mục tiêu và chương trình can thiệp cá nhân được xây dựng phù hợp với từng trẻ.
2 Nhận thức, thái độ của giáo viên đối với trẻ tự kỷ và sự hòa nhập của trẻ có thể ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, sự hòa nhập trong tương lai của trẻ và căng thẳng của giáo viên (Al Faiziz, 2007). Như thế, việc giáo viên có nhận thức và thái độ đúng đắn, khoa học về trẻ tự kỷ là rất cần thiết. Trích dẫn theo Theo dữ liệu của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ cho biết; số trẻ tự kỷ tăng dần lên từ năm 2014. Tính đến năm 2020, thống kê mới nhất cho thấy con số này đã tăng mạnh lên đến 3,49% so với năm 2017 (Hannah Sparks, 2022).
Bảng 1: Tỷ lệ rối loạn Phổ tự kỷ ở trẻ em và thiếu niên tại Hoa Kỳ từ năm 2014 - 2020 Đến tháng 01 năm 2019, theo Tổng cục thống kê công bố Việt Nam có khoảng 6,2 triệu người khuyết tật từ 2 tuổi trở lên (chiếm khoảng 6,5% dân số). Trong đó có khoảng 1 triệu người tự kỷ, tỷ lệ trẻ tự kỷ ước tính 1% số trẻ em sinh ra. Số liệu trên cho thấy, trẻ trong độ tuổi đi học được chẩn đoán mắc tự kỷ tăng lên đáng kể, và việc đưa nhóm trẻ này vào lớp học bình thường đã trở nên phổ biến ở Việt Nam, điều đó trở thành mối quan tâm lớn của ngành giáo dục. Không chỉ đối với trẻ mà còn có cả giáo viên là người trực tiếp làm việc cùng trẻ cũng cần được quan tâm.
Tuy nhiên, hiện nay giáo viên dạy hòa nhập vẫn còn ít 3 được chú ý, nhất là về chất lượng đào tạo và sức khỏe tinh thần. Với tám năm trực tiếp thực hiện giáo dục và hướng dẫn hòa nhập cho trẻ tự kỷ. Tôi lắng nghe được những trăn trở, khó khăn và đôi khi phải chứng kiến nhiều giáo viên tâm huyết bỏ nghề vì nhiều yếu tố trong công việc cộng hưởng; trong đó việc tiếp nhận trẻ tự kỷ học hòa nhập đã mang đến cho giáo viên lượng công việc quá tải và những áp lực như: điều chỉnh chương trình giáo dục để đáp ứng nhu cầu đặc biệt của trẻ tự kỷ, hành vi của trẻ cũng gây nên khó khăn khi quản lý lớp học… Nhưng hầu hết căng thẳng của các giáo viên đang dạy tại lớp học này chưa được lắng nghe, chưa được nâng đỡ tinh thần cũng như chưa có hướng hỗ trợ giúp đỡ phù hợp từ các nguồn lực bên trong và bên ngoài. Nhìn nhận được những khó khăn mà giáo viên dạy hòa nhập đã và đang đón nhận và hiểu được việc nâng cao nhận thức, thái độ, tinh thần của giáo viên là rất quan trọng trong việc giáo dục hòa nhập.
Tác giả thực hiện nghiên cứu này với mong muốn hướng đến sự nâng đỡ về tinh thần cho giáo viên. Đồng thời từ nghiên cứu này tìm ra các biến dự báo căng thẳng nghề nghiệp. Từ đó, kiến nghị những hướng giải quyết nhằm giúp cải thiện môi trường giáo dục hòa nhập hướng đến mục tiêu đem lại hiệu quả cho học sinh, hạnh phúc cho giáo viên. Mục đích nghiên cứu Mục đích của nghiên cứu này gồm 3 phần: (a) Điều tra hành vi trong lớp học của trẻ tự kỷ tác động đến căng thẳng nghề nghiệp của giáo viên.
(b) Các yếu tố thuộc về nhận thức của giáo viên khi dạy tại lớp có trẻ tự kỷ học hòa nhập tác động đến căng thẳng nghề nghiệp. (c) Từ đó đưa ra các yếu tố dự báo đáng kể đến tình trạng căng thẳng của giáo viên trong lớp học có trẻ tự kỷ học hòa nhập. Từ kết quả nghiên cứu dưới góc độ tâm lý học lâm sàng giúp giáo viên cảm thấy được lắng nghe, thấu hiểu và được nâng đỡ hỗ trợ về mặt tâm lý. Ngoài ra với hy vọng đề xuất những định hướng giáo dục, can thiệp hỗ trợ cho trẻ tự kỷ khi học hòa nhập nhằm giảm thiểu tình trạng căng thẳng nghề nghiệp của giáo viên.
Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu Bằng cách xác định hai yếu tố hành vi trong lớp học của trẻ và các yếu tố thuộc về nhận thức của giáo viên tác động đến tình trạng căng thẳng nghề nghiệp. Nghiên cứu này trả lời cho các câu hỏi sau: Câu hỏi 1: Liệu hành vi trong lớp học của trẻ tự kỷ và các yếu tố thuộc về nhận thức: kiến thức về trẻ tự kỷ, ý kiến về giáo dục hòa nhập, thái độ và chiến lược ứng phó của giáo viên đối với trẻ tự kỷ có mối tương quan đáng kể đến tình trạng căng thẳng của giáo viên? Câu hỏi 2: Những hành vi trong lớp học của trẻ tự kỷ có phải là yếu tố dự báo đến tình trạng căng thẳng của giáo viên?. Câu hỏi 3: Các yếu tố thuộc về nhận thức của giáo viên như: kiến thức về trẻ tự kỷ, ý kiến về giáo dục hòa nhập, thái độ và chiến lược ứng phó đối với trẻ tự kỷ có phải là yếu tố dự báo tình trạng căng thẳng nghề nghiệp?. Câu hỏi 4: Trong hai yếu tố: Hành vi trong lớp học của trẻ tự kỷ và các yếu tố thuộc về nhận thức của giáo viên, yếu tố nào có dự báo mạnh nhất cho tình trạng căng thẳng nghề nghiệp của giáo viên?.
Xem xét dựa trên các nghiên cứu khoa học trước đây, đã đưa ra nhiều yếu tố như: hành vi trong lớp học của trẻ tự kỷ, khối lượng công việc, thiếu hiểu biết về trẻ tự kỷ… có mối tương quan đáng kể đến tình trạng căng thẳng nghề nghiệp của giáo viên dạy hòa nhập. Dựa vào mục đích của nghiên cứu là xác định hai yếu tố: hành vi trong lớp học của trẻ và các yếu tố thuộc về nhận thức của giáo viên tác động đến vấn đề căng thẳng nghề nghiệp. Tác giả đã đưa ra các giả thuyết sau: H1: Hành vi trong lớp học của trẻ tự kỷ càng cao tỷ lệ thuận với tình trạng căng thẳng nghề nghiệp của giáo viên. H2: Các yếu tố thuộc về nhận thức của giáo viên bao gồm: kiến thức về trẻ tự kỷ, ý kiến về giáo dục hòa nhập, thái độ và chiến lược ứng phó đối với trẻ tự kỷ càng tốt thì tình trạng căng thẳng nghề nghiệp của giáo viên càng giảm.
5 H3: Hành vi trong lớp học của trẻ và các yếu tố thuộc về nhận thức của giáo viên là hai yếu tố góp phần dự báo đáng kể đến tình trạng căng thẳng nghề nghiệp của giáo viên. Phạm vi nghiên cứu Tác giả tập trung nghiên cứu các vấn đề hành vi của trẻ tự kỷ đang tham gia học hòa nhập và các yếu tố thuộc về nhận thức của giáo viên bao gồm: kiến thức về trẻ tự kỷ, ý kiến về giáo dục hòa nhập, thái độ và chiến lược ứng phó đối với trẻ tự kỷ là những yếu tố góp phần dự báo đến tình trạng căng thẳng nghề nghiệp của giáo viên. Tính mới của đề tài Đầu tiên, nghiên cứu này nhằm bổ sung các nghiên cứu trước đó đã chứng minh rằng giáo viên trong lớp có trẻ tự kỷ học hòa nhập thì mức độ căng thẳng cao (Wisniewski & Gargiulo,1997). Nhận thức của giáo viên về trẻ tự kỷ là một biến số rất nổi bật liên quan đến căng thẳng của giáo viên nên (Dahle, 2003; Harrower & Dunlap, 2001; Jordan, 2005) đề xuất giáo viên dạy ở lớp có trẻ tự kỷ cần được đào tạo về hiểu biết, thái độ và chiến lược giáo dục chính xác và đầy đủ để đưa đến giáo dục thành công cho trẻ và hạnh phúc cho giáo viên.
Thứ hai, nghiên cứu này đóng góp vào việc mở rộng thêm tài liệu về căng thẳng nghề nghiệp của giáo dạy trẻ tự kỷ học hòa nhập, với những khó khăn đặc trưng về tự kỷ mà nhóm trẻ này mang đến dưới góc nhìn Tâm lý lâm sàng. Tiếp đến, nghiên cứu này góp phần quan tâm đến sức khỏe tinh thần, đưa ra những đề xuất hỗ trợ tâm lý phù hợp cho giáo viên dạy trong lớp học có trẻ tự kỷ, đó được coi như là một trong những con đường để giảm thiểu cảm giác bị cô lập và sự kiệt sức của giáo viên. Chẳng hạn như: những buổi tọa đàm dành riêng để chia sẻ và lắng nghe áp lực, căng thẳng, khó khăn….