Chương 1: Giới thiệu. Trong chương này tôi đưa ra lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, các đóng góp của bài nghiên cứu và hướng phát triển đề tài. Chương 2: Khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây. Trong chương này tôi giới thiệu lý thuyết về sự dịch chuyển của dòng vốn quốc tế.
Sau đó, tôi tiến hành tổng quan các nghiên cứu trước đây và từ đó đưa ra lỗ hổng nghiên cứu (research gap) của các nghiên cứu trước đây. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Tôi tiến hành giới thiệu dữ liệu nghiên cứu, đưa ra cách đo lường các biến trong bài nghiên cứu, hơn thế nữa, tôi sơ lược qua mô hình nghiên cứu mà tôi sử dụng trong bài nghiên cứu và cuối cùng tôi trình bày phương pháp ước lượng. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Tôi tiến hành thảo luận các kết quả ước lượng từ các phương trình nghiên cứu dựa vào phương pháp ước lượng được đề cập trong Chương 3. Hơn thế nữa, tôi cũng thực hiện kiểm định tính vững chắc “nghịch lý Lucas” và nghiên cứu sự kiện. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. Trong chương này tôi đi đến các kết luận của bài nghiên cứu từ đó hướng đến việc khuyến nghị các hàm ý chính sách cho các quốc gia nói chung và Việt Nam và ASEAN nói riêng trong việc thu hút dòng vốn quốc tế, đồng thời tôi cũng nêu lên những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo từ các hạn chế này.
Ý nghĩa đề tài Bài nghiên cứu của tác giả đóng góp cả về mặt lý luận và mặt thực tiễn: Về mặt lý luận: Bài nghiên cứu góp phần làm phong phú thêm và bổ sung cho các nghiên cứu về sự dịch chuyển dòng vốn quốc tế, nhất là tại Việt Nam và ASEAN, số lượng các nghiên cứu về sự dịch chuyển dòng vốn quốc tế và nghịch lý Lucas vẫn còn khá khiêm tốn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Về mặt thực tiễn: Việc tìm ra bằng chứng dòng vốn chảy từ các quốc gia nghèo sang các quốc giàu giúp cho các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn sâu sắc hơn về sự dịch chuyển dòng vốn quốc tế. Hơn thế nữa, với các phát hiện về sự khác biệt của Việt Nam và các quốc gia trong khu vực ASEAN với các quốc gia khác trong mẫu nghiên cứu có thể giúp ích cho các nhà hoạch định chính sách của các quốc gia này trong việc thu hút dòng vốn chảy vào trong nước. Hướng phát triển đề tài Các nghiên cứu sau này có thể phát triển đề tài này bằng cách mở rộng số lượng quốc gia trong mẫu nghiên cứu để có thể mang tính đại diện cho tất cả quốc gia trên thế giới.
Đồng thời, nên mở rộng giai đoạn nghiên cứu thêm, và có thể tách biệt các giai đoạn thời gian có khủng hoảng tài chính nhằm hạn chế ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến kết quả nghiên cứu. Hơn thế nữa, việc sử dụng thêm một số chỉ số đại diện cho mức độ mở cửa tài chính nhằm gia tăng tính vững chắc cho kết quả nghiên cứu cũng là một hướng cần được xem xét trong các nghiên cứu trong tương lai. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 CHƯƠNG 2 - KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Khung lý thuyết Một trong các nghiên cứu đầu tiên nhằm có cái nhìn sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự di chuyển của các dòng vốn quốc tế là của McKinnon (1973), người đã phát triển ý tưởng sự khác biệt giữa các quốc gia bằng cách khẳng định rằng cơ cấu chính trị, kinh nghiệm thuộc địa (colonial experience) và các nguồn nhân lực có thể giải thích được sự khác biệt giữa các quốc gia và sự phát triển của các quốc gia này.
Theo quan điểm của tác giả, các quốc gia có sự thành công trong việc phát triển kinh tế thường phải chú ý đến hệ thống tiền tệ và ngân hàng theo một cách tổng thể. Tác giả cũng nhấn mạnh vai trò của lạm phát ở các quốc gia đang phát triển, bởi vì các nhà đầu tư nước ngoài có thể bị thu hút bởi lãi suất cao ở các quốc gia đang phát triển. Điều này phù hợp với lý thuyết tân cổ điển khi cho rằng dòng vốn được kiểm soát bởi sự chênh lệch lãi suất giữa các quốc gia. Nếu như không tồn tại bất kỳ sự ràng buộc nào về sự dịch chuyển dòng vốn giữa các quốc gia, dòng vốn sẽ chảy từ nơi có tỷ suất sinh lợi thấp (chẳng hạn như các quốc gia có sự phát triển tài chính cao, tương đối dư thừa về vốn) đến nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn, quốc gia nhận dòng vốn này sẽ là quốc gia có sự khan hiếm vốn tương đối, chẳng hạn như các quốc gia đang phát triển, khi đó, giá trị thực của lãi suất sẽ bị giảm bởi tỷ lệ lạm phát cao.
Hơn thế nữa, tác giả khẳng định việc hạn chế nhập khẩu và hỗ trợ xuất khẩu cũng đóng vai trò quan rọng trong việc hạn chế nhập khẩu để làm giảm lượng ngoại tệ lưu thông trong quốc gia. Do đó, hành động này cho thấy cách mà chính phủ có thể kiểm soát thị trường tài chính nội địa bằng cách sử dụng các công cụ và các chính sách khác nhau. Tuy nhiên, Lucas (1990) phát hiện nghịch lý về sự dịch chuyển dòng vốn quốc tế khác với kỳ vọng của lý thuyết tân cổ điển khi cho rằng dòng vốn sẽ dịch chuyển từ các quốc gia nghèo sang các quốc gia giàu. Cụ thể Lucas tập trung vào việc phân tích năng suất biên của vốn ở Ấn Độ và Mỹ, nếu lý thuyết tân cổ điển đúng thì năng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 suất biên của Ấn độ gấp 58 lần năng suất biên của Mỹ 1(Lucas, 1990).
Tuy nhiên, điều này lại không chính xác với kì vọng của lý thuyết tân cổ điển, và tại thời điểm đó tác giả cũng không có thể trả lời câu hỏi là chính xác là điều gì gây ra sự sai sót này và nhân tố nào có thể giải thích điều này. Nhưng, theo quan điểm của tác giả, có hai sự giải thích chính như sau: (1) Sự khác biệt trong vốn con người (Human capital): Vốn con người có thể không giống nhau ở các quốc gia được phân tích. Đó là lý do tại sao Lucas đã giả định rằng nó có thể là nhân tố giải thích được sự khác biệt so với mô hình tân cổ điển. Theo như sự tính toán của tác giả, tác giả so sánh đầu vào lao động hiệu quả (effective labour input) trên mỗi người sẽ bằng ở cả hai quốc gia, và tác giả kết luận rằng điều này không đúng.
Do đó, tác giả cố gắng hiệu chỉnh bằng cách sử dụng bài nghiên cứu của Krueger (1968) về vốn con người; tuy nhiên, dữ liệu được phân tích bởi Krueger sử dụng cho năm 1950. Vì vậy, xuất hiện nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu về sự bất bình đẳng của vốn con người. Tác giả lập luận cho sự lựa chọn của mình bởi trong suốt 25 năm, vốn con người (bao gồm giáo dục, tuổi và ngành nghề) không có thay đổi nhiều. Kết quả là, năng suất của 1 người lao động tại Mỹ sẽ bằng với năng suất của 5 người lao động tại Ấn Độ.
Điều này dẫn đến việc hiệu chỉnh năng suất biên của vốn, sẽ bằng với 58, và bây giờ sự chênh lệch trong vốn con người sẽ bằng 5 chứ không phải bằng 58. (2) Sự bất hoàn hảo của thị trường vốn (Capital Market Imperfections) – đây là lí do thứ 2 giải thích nghịch lý được đề xuất bởi Lucas. Tác giả lập luận rằng các quốc gia nghèo mua vốn từ các nền kinh tế tiên tiến và trả lãi sau đó, do đó dòng chảy lợi nhuận từ việc “bán vốn” sẽ chảy từ các quốc gia nghèo sang các quốc gia giàu. Tuy nhiên, tồn tại rủi ro mà các quốc gia nghèo sẽ không tuân 1 Việc tính toán năng suất biên của vốn được dựa trên công thức: 1) r = A*B*xB-1 trong đó x là vốn trên mỗi người lao động và B là giá trị vốn trung bình; 2) r = BA1/By(B-1)B là năng suất trên mỗi người lao động TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 thủ các nghĩa vụ của họ và có thể chấm dứt mối quan hệ của họ với các nhà đầu tư.
Nếu điều này xảy ra, các quốc gia giàu sẽ không thể cho vay vốn trong tương lai. Sự bất hoàn hảo này gọi là “rủi ro chính trị”. Tóm lại, Lucas không trực tiếp trả lời các câu hỏi trọng tâm mà tác giả đã đề cập ban đầu, mà chỉ cung cấp các suy nghĩ theo một hướng khác, chẳng hạn như vấn đề thuế nặng (heavy taxation) ở các quốc gia đang phát triển, hoặc việc áp đặt các ràng buộc về dòng vốn chảy vào. Tác giả cũng khẳng định rằng thị trường lao động thì cố định trước giai đoạn 1990, tuy nhiên, điều này không còn chính xác trong thế kỷ thứ 21, bởi vì ngày nay lực lượng lao động dễ dàng di chuyển ra nước ngoài hơn so với thời gian trước đây.
Đồng thời, Lucas chỉ ra rằng rủi ro chính trị là yếu tố quan trọng làm hạn chế dòng vốn chảy vào quốc gia. Tổng quan nghiên cứu trước đây Ý tưởng của Lucas nhận được nhiều sự quan tâm của các nghiên cứu sau này, các nghiên cứu cố gắng tìm kiếm lý do cho nghịch lý của sự dịch chuyển dòng vốn. Các bài nghiên cứu trước đây đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau với mục tiêu xem xét sự dịch chuyển của dòng vốn quốc tế từ những năm 1990 và một trong các nghiên cứu đưa ra cách giải thích sớm nhất được cung cấp bởi Wei (2000), trong nghiên cứu của tác giả, tác giả đã mở rộng vấn đề so với các nghiên cứu trước đây bằng cách xem xét mối quan hệ giữa tham nhũng và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Bài nghiên cứu của tác giả dựa vào hai giả định chính: (i) các quan chức chính phủ phân bổ không đều vốn của các đối tác có liên quan, và (ii) các chủ nợ nước ngoài không chắc chắn về các nền kinh tế đang phát triển.
Kết quả là một sự gia tăng trong mức độ tham nhũng ở các quốc gia đang phát triển sẽ làm giảm sự kỳ vọng của các chủ nợ. Bài nghiên cứu của Wei (2000) sử dụng dữ liệu của 49 quốc gia trong giai đoạn 1994 – 1996 cho thấy rằng trong suốt giai đoạn nghiên cứu này, 70% dòng vốn FDI chảy ra là từ các quốc gia Mỹ, Nhật Bản, Anh, Đức, Pháp và Hồng Kong, trong đó có hơn 50% dòng vốn chảy vào Trung Quốc.