Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHỮNG LOẠI NGƯỜI ĐỒNG PHẠM TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM ĐỒNG PHẠM VÀ CÁC HÌNH THỨC ĐỒNG PHẠM 1. Khái niệm đồng phạm "Đồng" theo Từ điển tiếng Việt nghĩa là cùng như nhau, không thể khác được. "Phạm" là làm tổn hại đến cái cần tôn trọng, mắc phải điều cần tránh.
Đồng phạm nghĩa là cùng phạm tội hiểu theo nghĩa của luật hình sự" [Dẫn theo 3, tr. Nghiên cứu lịch sử lập pháp hình sự của nước ta, chúng ta thấy vấn đề đồng phạm đã được luật hình sự Việt Nam quy định từ rất sớm nhưng mới chỉ xem xét ở một số khía cạnh nhất định, chưa có quy định về khái niệm đồng phạm. Cho đến khi BLHS năm 1985 được ban hành thì khái niệm pháp lý về đồng phạm mới chính thức được quy định tại khoản 1 Điều 17: "Hai hoặc nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm", BLHS năm 1999 tiếp tục quy định khái niệm pháp lý về đồng phạm tại khoản 1 Điều 20 như sau: "Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm". Từ khái niệm pháp lý trên về đồng phạm và thực tiễn xét xử cho thấy, đồng phạm đòi hỏi phải có những dấu hiệu pháp lý về mặt khách quan và chủ quan như sau: - Về mặt khách quan Phải có sự cùng tham gia của từ hai người trở lên vào việc thực hiện tội phạm, những người này đều có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS; những người đồng phạm phải cùng chung hành động, có nghĩa là hành vi của mỗi người trong số họ đều nhằm thực hiện tội phạm, hoặc góp phần thực hiện 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tội phạm; giữa hành vi phạm tội của mỗi người và hậu quả phạm tội chung xảy ra phải có mối quan hệ nhân quả.
- Về mặt chủ quan Có sự cùng cố ý của tất cả những người phạm tội tham gia vào thực hiện tội phạm do cố ý với các dấu hiệu sau: Những người cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm đều biết được hoạt động phạm tội của mỗi người (hoặc một số người trong số họ); những người đồng phạm đều ý thức được hành vi phạm tội của mình và hành vi phạm tội của những người khác; những người đồng phạm cùng mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả chung nguy hiểm cho xã hội xảy ra. Lỗi của những người đồng phạm là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp. Lỗi của những người đồng phạm có thể đều là lỗi cố ý trực tiếp hoặc đều là cố ý gián tiếp và cũng có thể có trường hợp "Trong vụ đồng phạm có thể đồng thời có cả lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp" [35, tr. Tóm lại, theo chúng tôi khái niệm khoa học về đồng phạm có thể được hiểu như sau: Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự cố ý cùng tham gia thực hiện tội phạm do cố ý.
Các hình thức đồng phạm Hình thức đồng phạm là dạng biểu hiện bên ngoài, là phương thức tồn tại và phát triển của đồng phạm đồng thời là mối quan hệ tương đối bền vững giữa những người đồng phạm. Khoa học luật hình sự Việt Nam, "căn cứ vào những đặc điểm của mối quan hệ giữa những người đồng phạm về mặt chủ quan và khách quan để phân loại các hình thức đồng phạm" [56, tr. 180] như sau: a) Căn cứ vào dấu hiệu chủ quan, đồng phạm được phân loại thành đồng phạm có thông mưu trước và đồng phạm không có thông mưu trước. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Đồng phạm không có thông mưu trước: là hình thức đồng phạm trong đó giữa những người đồng phạm không có sự bàn bạc, thỏa thuận với nhau trước về việc tham gia thực hiện tội phạm.
Trong hình thức đồng phạm này, tuy giữa những người đồng phạm không có sự bàn bạc, thỏa thuận trước với nhau về việc thực hiện tội phạm, nhưng mỗi người đều nhận thức được họ cùng với những người đồng phạm khác đang thực hiện một tội phạm nhất định, hoạt động phạm tội của mỗi người trong số họ tiến hành trong sự liên hệ với nhau. - Đồng phạm có thông mưu trước: là hình thức đồng phạm trong đó những người đồng phạm có sự bàn bạc, thỏa thuận trước với nhau về tội phạm cùng tham gia thực hiện. Do có sự bàn bạc, thỏa thuận, tính toán kỹ càng chu đáo từ trước nên giữa những người đồng phạm có mối liên hệ chặt chẽ trong việc cùng tham gia thực hiện tội phạm chung. Do vậy, hình thức đồng phạm có thông mưu trước có mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn hình thức đồng phạm không có thông mưu trước.
b) Căn cứ vào dấu hiệu khách quan, đồng phạm được phân loại thành đồng phạm giản đơn và đồng phạm phức tạp. - Đồng phạm giản đơn: là hình thức đồng phạm trong đó tất cả những cùng người tham gia vào việc thực hiện tội phạm đều có vai trò là người thực hành (người đồng thực hành). Có nghĩa là, mỗi người đồng phạm đều thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm (CTTP) của điều luật được quy định trong Phần các tội phạm. - Đồng phạm phức tạp: là hình thức đồng phạm có sự phân công vai trò của những người cùng tham gia thực hiện tội phạm, trong đó ngoài một hoặc một số người có vai trò là người thực hành, còn có sự tham gia của những người đồng phạm khác như người tổ chức, người xúi giục hoặc người giúp sức.
Ở hình thức đồng phạm phức tạp chỉ có một hoặc một số người đồng phạm (người đồng thực hành) thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong CTTP. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com c) Căn cứ vào những đặc điểm khách quan và chủ quan của quan hệ giữa những người đồng phạm, đồng phạm được phân đồng phạm có tổ chức (phạm tội có tổ chức). - Phạm tội có tổ chức: là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm (khoản 3 Điều 20 BLHS năm 1999). Theo quy định tại khoản 3 Điều 20 BLHS năm 1999 thì trong đồng phạm có tổ chức, giữa những người cùng thực hiện tội phạm phải có sự câu kết chặt chẽ với nhau, có sự phân công vai trò, nhiệm vụ cụ thể, có sự tính toán và chuẩn bị kỹ càng, chu đáo trong việc cùng tham gia thực hiện tội phạm.
Theo hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 16/11/1988 hướng dẫn bổ sung Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 khi giải thích khoản 3 Điều 20 BLHS năm 1999 về "Phạm tội có tổ chức" thì phạm tội có tổ chức phải có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, sự câu kết này, theo hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán TANDTC, có thể thể hiện dưới các dạng sau: a) Những người đồng phạm đã tham gia một tổ chức phạm tội như đảng phái, hội đoàn phản động, băng, ổ trộm, cướp… có những người chỉ huy, cầm đầu. Tuy nhiên, cũng có khi tổ chức phạm tội không có tên chỉ huy, cầm đầu mà chỉ là sự tập trung những người chuyên phạm tội đã thống nhất cùng nhau hoạt động phạm tội; b) Những người đồng phạm đã cùng nhau phạm tội nhiều lần theo một kế hoạch đã thống nhất trước; c) Những người đồng phạm chỉ thực hiện tội phạm một lần nhưng đã tổ chức thực hiện tội phạm theo một kế hoạch đã được tính toán kỹ càng, chu đáo, có sự chuẩn bị phương tiện hoạt động và có khi còn chuẩn bị cả kế hoạch che giấu tội phạm. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, với những đặc điểm của phạm tội có tổ chức nêu trên, chúng ta thấy rằng hình thức đồng phạm có tổ chức có thể thực hiện tội phạm nhiều lần, liên tục, gây ra những hậu quả nghiêm trọng làm cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm gặp nhiều khó khăn, tốn kém. Do vậy, BLHS năm 1999 đã quy định phạm tội có tổ chức là một tình tiết tăng nặng TNHS tại Điều 48, và trong hàng loạt các CTTP trong Phần các tội phạm, tình tiết phạm tội có tổ chức được quy định là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt.
NHỮNG LOẠI NGƯỜI ĐỒNG PHẠM Những loại người đồng phạm chính là những chủ thể đã tạo nên vụ đồng phạm. Như chúng ta đã biết: Chủ thể của tội phạm là người đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định (ngoài ra, trong một số trường hợp cụ thể chủ thể của tội phạm còn có dấu hiệu bổ sung đặc biệt do quy phạm pháp luật hình sự tương ứng quy định) [16, tr. Như vậy, có thể nói chủ thể của tội phạm đồng phạm là những người có lỗi cố ý trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm, họ có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS theo luật định, một số tội phạm đòi hỏi phải có dấu hiệu chủ thể đặc biệt thì dấu hiệu này chỉ quy định cho người thực hành. Nghiên cứu lịch sử lập pháp hình sự nước ta cho đến trước thời điểm BLHS năm 1985 được ban hành cho thấy, chưa có văn bản PLHS nào đưa ra khái niệm về người đồng phạm.
Khoản 2 Điều 17 BLHS năm 1985 lần đầu tiên chính thức quy định về người đồng phạm như sau: "Người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm". Khoản 2 Điều 20 BLHS năm 1999 giữ nguyên quy định của BLHS năm 1985 về người đồng phạm. 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, chúng tôi có thể đưa ra khái niệm khoa học về người đồng phạm như sau: Người đồng phạm là người thỏa mãn các dấu hiệu chủ thể của tội phạm, đã cố ý tham gia vào việc thực hiện tội phạm do cố ý cùng với người khác. Tóm lại, có thể nói rằng cơ sở để phân biệt những loại người đồng phạm là vai trò, tính chất sự tham gia của họ vào việc thực hiện tội phạm.
BLHS nước ta đã dựa trên cơ sở khoa học này để quy định những loại người đồng phạm là người thực hành, người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức (khoản 2 Điều 20 BLHS năm 1999).