Luận văn: Nâng cao động lực NV Tập đoàn Điện lực VN qua thi đua

Luận văn về nâng cao động lực làm việc của nhân viên EVN qua thi đua khen thưởng. Giải pháp tăng hiệu quả cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam.

Trường đại học

Trường Đại học Điện lực

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

111
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

prefix.1. Lý do chọn đề tài

prefix.2. Tổng quan nghiên cứu

prefix.3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

prefix.4. Đối tượng và phạm nghiên cứu

prefix.5. Câu hỏi nghiên cứu

prefix.6. Phương pháp nghiên cứu

prefix.7. Bố cục đề tài

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÁN BỘ, CÔNG NHÂN VIÊN THÔNG QUA CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG

1.1. Động lực làm việc của cán bộ, công nhân viên

1.2. Một số khái niệm liên quan

1.3. Một số học thuyết tạo động lực

1.4. Vai trò của việc tạo động lực làm việc cho cán bộ, công nhân viên

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của cán bộ, công nhân viên

1.6. Công tác thi đua, khen thưởng

1.6.1. Một số khái niệm

1.6.2. Mối quan hê ̣giữa thi đua và khen thưởng

1.6.3. Ý nghĩa, vai trò của công tác thi đua, khen thưởng

1.6.4. Vai trò của thi đua, khen thưởng trong công tác tạo động lực đối với cán bộ, công nhân viên

1.7. Các yếu tố tác động đến công tác thi đua, khen thưởng

1.8. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả tạo động lực làm việc của cán bộ, công nhân viên trong tổ chức

1.8.1. Kết quả thực hiện công việc

1.8.2. Thái độ làm việc của cán bộ, công nhân viên

1.8.3. Ý thức chấp hành kỷ luật của cán bộ, công nhân viên

1.8.4. Mức độ gắn bó của cán bộ, công nhân viên với tổ chức

1.8.5. Sự hài lòng của cán bộ, công nhân viên

1.9. Bài học kinh nghiệm về tạo động lực làm việc của cán bộ, công nhân viên thông qua công tác thi đua, khen thưởng của một số đơn vị

1.9.1. Kinh nghiệm tại Công ty cổ phần FPT (The Financing and Promoting Technology Corp)

1.9.2. Kinh nghiệm tại Ngân hàng Viettinbank

1.10. Bài học kinh nghiệm nâng cao động lực làm việc của cán bộ, công nhân viên thông qua công tác thi đua, khen thưởng

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NÂNG CAO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÁN BỘ, CÔNG NHÂN VIÊN THÔNG QUA CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG TẠI TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM

2.1. Khái quát về tập đoàn điện lực Việt Nam

2.1.1. Sự ra đời và quá trình hình thành

2.1.2. Thông tin chung về tập đoàn

2.1.3. Nhiệm vụ, chức năng của EVN

2.1.4. Tổ chức bộ máy của EVN

2.1.5. Kết quả sản xuất kinh doanh và nguồn nhân lực của EVN

2.2. Thực trạng công tác thi đua, khen thưởng tại tập đoàn điện lực Việt Nam giai đoạn 2017-2020

2.2.1. Tổ chức chỉ đạo thực hiện các văn bản pháp luật về thi đua, khen thưởng

2.2.2. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến quán triệt và phát động phong trào về thi đua, khen thưởng

2.2.3. Công tác bồi dưỡng, tuyên dương các điển hình tiên tiến

2.2.4. Công tác khen thưởng

2.2.5. Chế độ tiền thưởng

2.2.6. Đánh giá công tác thi đua khen thưởng của EVN

2.2.6.1. Mức độ hài lòng của cán bộ, công nhân viên về phong trào thi đua - khen thưởng của Tập đoàn
2.2.6.2. Thái độ làm việc của cán bộ, công nhân viên Tập đoàn

2.3. Đánh giá chung kết quả tạo động lực làm việc cho cán bộ công nhân viên thông qua công tác thi đua, khen thưởng tại tập đoàn điện lực Việt Nam

2.3.1. Những kết quả đạt được

2.3.2. Hạn chế, tồn tại và nguyên nhân

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÁN BỘ, CÔNG NHÂN VIÊN THÔNG QUA CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG TẠI TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM

3.1. Mục tiêu phát triển và quan điểm về công tác thi đua, khen thưởng của Tập đoàn Điện lực Việt Nam

3.1.1. Mục tiêu phát triển của Tập đoàn Điện lực Việt Nam đến năm 2025

3.1.2. Quan điểm về công tác thi đua, khen thưởng của Tập đoàn Điện lực Việt Nam

3.2. Giải pháp nâng cao động lực làm việc cho cán bộ, công nhân viên thông qua công tác thi đua, khen thưởng

3.2.1. Triển khai kịp thời và hướng dẫn các văn bản của Nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng

3.2.2. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy thi đua, khen thưởng, củng cố và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng

3.2.3. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo về thi đua, khen thưởng

3.2.4. Tổng kết đánh giá công tác thi đua, khen thưởng

3.2.5. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo về thi đua, khen thưởng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Thi đua khen thưởng Chìa khóa vàng tạo động lực NV Điện lực

Trong môi trường đặc thù của ngành năng lượng, việc tạo động lực làm việc cho nhân viên không chỉ là một nghệ thuật quản trị mà còn là yếu tố sống còn quyết định sự thành bại của tổ chức. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), với vai trò trụ cột an ninh năng lượng quốc gia, luôn đối mặt với áp lực duy trì và nâng cao năng suất lao động. Luận văn thạc sĩ của Bùi Hà Trung (2022) đã chỉ ra rằng, công tác thi đua khen thưởng là một trong những công cụ mạnh mẽ nhất để đạt được mục tiêu này. Thi đua không chỉ là phong trào bề nổi, mà là một phương pháp cách mạng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Thi đua là một cách rất tốt, rất thiết thực để làm cho mọi người tiến bộ”. Một hệ thống thi đua khen thưởng được xây dựng khoa học, minh bạch và công bằng sẽ trực tiếp khích lệ tinh thần nhân viên, thúc đẩy sự sáng tạo và củng cố lòng trung thành. Nó biến mục tiêu của tổ chức thành mục tiêu của mỗi cá nhân, tạo ra một sức mạnh cộng hưởng to lớn, giúp EVN hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh và xây dựng một văn hóa doanh nghiệp ngành điện vững mạnh. Động lực làm việc của nhân viên, theo các học thuyết kinh điển như Tháp nhu cầu của Maslow hay Thuyết hai yếu tố của Herzberg, chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi sự công nhận và tưởng thưởng. Do đó, việc phân tích và tối ưu hóa các phong trào thi đua EVN không chỉ là nhiệm vụ của bộ phận nhân sự mà là chiến lược trọng tâm của toàn bộ tập đoàn.

1.1. Vai trò cốt lõi của việc tạo động lực làm việc trong EVN

Động lực làm việc là yếu tố quyết định trực tiếp đến hiệu suất và sự sáng tạo. Đối với một ngành đòi hỏi sự chính xác và an toàn tuyệt đối như ngành điện, động lực của mỗi cán bộ, công nhân viên là nền tảng để đảm bảo an toàn lao động và vận hành hệ thống ổn định. Một nhân viên có động lực cao sẽ tự giác tuân thủ quy trình, tích cực đề xuất sáng kiến cải tiến kỹ thuật và nỗ lực hết mình để hoàn thành nhiệm vụ. Ngược lại, sự thiếu động lực có thể dẫn đến thái độ làm việc thờ ơ, sai sót trong vận hành, gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Luận văn của Bùi Hà Trung nhấn mạnh, hiệu suất làm việc (P) là tích của Năng lực (A), Nguồn lực (R) và Động lực (M). Nếu động lực bằng không, dù năng lực và nguồn lực có đầy đủ, hiệu suất vẫn sẽ bằng không. Do đó, việc xây dựng và duy trì động lực cho đội ngũ là nhiệm vụ chiến lược, đảm bảo sự phát triển bền vững của Tập đoàn.

1.2. Mối quan hệ biện chứng giữa thi đua và khen thưởng

Thi đua và khen thưởng có mối liên hệ mật thiết, không thể tách rời. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ví von: “Thi đua là gieo trồng, khen thưởng là thu hoạch”. Thi đua là quá trình tổ chức các hoạt động có mục tiêu, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh để mọi người phấn đấu. Khen thưởng là kết quả, là sự ghi nhận của tổ chức đối với những nỗ lực và thành tích xuất sắc. Khen thưởng đúng người, đúng việc, kịp thời sẽ là đòn bẩy mạnh mẽ, củng cố ý nghĩa của phong trào thi đua. Nó không chỉ mang lại lợi ích vật chất mà còn là sự động viên tinh thần to lớn, xác nhận giá trị và sự cống hiến của cá nhân, tập thể. Một quy chế thi đua khen thưởng rõ ràng, công bằng sẽ giúp cho việc gieo trồng (thi đua) đạt năng suất cao và việc thu hoạch (khen thưởng) thực sự xứng đáng, từ đó tạo ra một vòng tuần hoàn tích cực, liên tục thúc đẩy sự phát triển.

II. Thách thức trong công tác thi đua khen thưởng ngành Điện lực

Mặc dù nhận thức rõ tầm quan trọng, thực tiễn triển khai công tác thi đua khen thưởng tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức và hạn chế. Nghiên cứu của Bùi Hà Trung (2022) chỉ ra một số vấn đề nổi cộm cần được giải quyết triệt để. Một trong những thách thức lớn nhất là tình trạng hình thức hóa các phong trào thi đua. Nội dung và chỉ tiêu thi đua đôi khi còn chung chung, sao chép máy móc, chưa bám sát vào đặc thù nhiệm vụ của từng đơn vị. Điều này dẫn đến sự nhàm chán, làm giảm tính hấp dẫn và ý nghĩa thực tiễn của phong trào. Bên cạnh đó, quy trình bình xét thi đua cuối năm ở một số nơi chưa thực sự công khai, minh bạch. Vẫn còn tồn tại tình trạng nể nang, ưu ái lãnh đạo, khiến cho việc khen thưởng chưa đúng người, đúng việc. Hậu quả là những cá nhân, tập thể thực sự xứng đáng thì không được ghi nhận, trong khi những người không có thành tích nổi bật lại được khen. Điều này gây ra tâm lý bất mãn, làm xói mòn niềm tin và động lực phấn đấu của người lao động, ảnh hưởng tiêu cực đến việc gắn kết nhân viên điện lực. Những hạn chế này nếu không được khắc phục kịp thời sẽ làm phản tác dụng của khen thưởng, biến một công cụ quản lý hiệu quả thành gánh nặng hình thức.

2.1. Nguy cơ hình thức hóa và sự chồng chéo các phong trào

Một thực trạng được đề cập trong tài liệu nghiên cứu là việc tổ chức các phong trào thi đua đôi khi còn “chồng lấn” lên nhau. Một phong trào chưa kết thúc đã có phong trào khác được phát động, gây ra sự quá tải và nhàm chán cho người tham gia. Các chỉ tiêu thi đua thiếu sự cụ thể hóa, không đo lường được, làm cho việc đánh giá trở nên cảm tính. Việc thiếu kiểm tra, giám sát thường xuyên trong quá trình thực hiện cũng là một nguyên nhân khiến phong trào chỉ sôi nổi ở giai đoạn phát động rồi dần chìm xuống. Điều này làm cho công tác thi đua khen thưởng mất đi ý nghĩa thực chất là thúc đẩy hiệu quả công việc, mà chỉ còn là hoạt động mang tính hình thức để hoàn thành báo cáo.

2.2. Sự sụt giảm tinh thần khi quy trình bình xét thiếu minh bạch

Khảo sát tại EVN cho thấy một bộ phận cán bộ, công nhân viên chưa thực sự hài lòng về tính công khai, minh bạch trong việc bình bầu khen thưởng (Bảng 2.5, Luận văn Bùi Hà Trung). Khi kết quả khen thưởng không phản ánh đúng nỗ lực và cống hiến, nó sẽ tạo ra một tiền lệ xấu. Người lao động sẽ mất đi niềm tin vào sự công bằng của tổ chức, từ đó không còn mặn mà với các phong trào thi đua. Tình trạng này không chỉ làm giảm động lực cá nhân mà còn ảnh hưởng đến tinh thần hợp tác, gây chia rẽ nội bộ. Việc khích lệ tinh thần nhân viên sẽ trở nên vô hiệu nếu sự ghi nhận không được thực hiện một cách công tâm và xứng đáng, làm ảnh hưởng đến mục tiêu chung là phát triển nguồn nhân lực bền vững.

III. Phương pháp đổi mới chính sách khen thưởng nhân viên EVN

Để vượt qua các thách thức, việc cải tiến và hoàn thiện chính sách khen thưởng nhân viên là yêu cầu cấp thiết. Giải pháp không nằm ở việc tăng số lượng phần thưởng, mà là nâng cao chất lượng và ý nghĩa của việc khen thưởng. Cần xây dựng một hệ thống khen thưởng đa dạng, linh hoạt, kết hợp hài hòa giữa lợi ích vật chất và tinh thần. Thay vì chỉ tập trung vào các danh hiệu thi đua cuối năm, cần chú trọng hơn đến hình thức khen thưởng đột xuất. Việc ghi nhận kịp thời một hành động dũng cảm, một sáng kiến cải tiến kỹ thuật hiệu quả, hay một nỗ lực vượt bậc để khắc phục sự cố sẽ có tác động tức thì và mạnh mẽ hơn nhiều. Hơn nữa, quy chế thi đua khen thưởng cần được cụ thể hóa bằng những tiêu chí rõ ràng, có thể định lượng và đo lường được, gắn trực tiếp với kết quả hoàn thành nhiệm vụ và mục tiêu chiến lược của đơn vị. Việc áp dụng công nghệ trong quản lý và đánh giá thi đua cũng là một hướng đi cần thiết để đảm bảo tính khách quan, minh bạch. Các hình thức khen thưởng cũng cần được làm mới, không chỉ giới hạn ở tiền thưởng hay giấy khen, mà có thể là các cơ hội đào tạo nâng cao, các chuyến tham quan học tập kinh nghiệm, hoặc đơn giản là sự vinh danh công khai trước tập thể. Đây là những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi đua khen thưởng.

3.1. Xây dựng tiêu chí đánh giá khen thưởng rõ ràng minh bạch

Nền tảng của một chính sách khen thưởng hiệu quả là một bộ tiêu chí đánh giá công bằng và minh bạch. Các tiêu chí cần được xây dựng dựa trên bản mô tả công việc của từng vị trí, gắn với các chỉ số đo lường hiệu suất (KPIs) cụ thể. Ví dụ, đối với công nhân vận hành, tiêu chí có thể là số giờ vận hành an toàn, thời gian xử lý sự cố. Đối với kỹ sư, đó là số lượng sáng kiến cải tiến kỹ thuật được áp dụng. Việc công khai các tiêu chí này ngay từ đầu kỳ thi đua sẽ giúp nhân viên hiểu rõ họ cần làm gì để được ghi nhận. Quá trình bình xét phải có sự tham gia của tập thể và được giám sát chặt chẽ, loại bỏ hoàn toàn yếu tố cảm tính và nể nang.

3.2. Đa dạng hóa hình thức và tăng cường khen thưởng đột xuất

Khen thưởng không nên chỉ giới hạn trong các kỳ tổng kết. Việc triển khai khen thưởng đột xuất cho các thành tích đặc biệt có ý nghĩa khích lệ rất lớn. Nó cho thấy sự quan tâm sâu sát của lãnh đạo và ghi nhận nỗ lực của nhân viên một cách tức thì. Bên cạnh đó, các hình thức phúc lợi cho người lao động ngành điện có thể được tích hợp vào hệ thống khen thưởng. Ví dụ, nhân viên xuất sắc có thể được tặng thêm gói bảo hiểm sức khỏe cho người thân, được ưu tiên xét duyệt các chương trình đào tạo chuyên sâu. Sự đa dạng này giúp chính sách khen thưởng đáp ứng được nhiều loại nhu cầu khác nhau của người lao động, từ đó tạo ra động lực mạnh mẽ và toàn diện hơn.

IV. Bí quyết tổ chức phong trào thi đua EVN hiệu quả thực chất

Một phong trào thi đua EVN thành công không chỉ dừng lại ở việc phát động rầm rộ mà phải được tổ chức một cách khoa học, có chiều sâu và mang lại hiệu quả thực tế. Bí quyết nằm ở việc biến thi đua thành hoạt động thường xuyên, liên tục, gắn liền với nhiệm vụ hàng ngày của mỗi cá nhân và đơn vị. Nội dung thi đua cần phải thiết thực, tập trung giải quyết các vấn đề trọng tâm, cấp bách của ngành như đảm bảo an toàn lao động, giảm tổn thất điện năng, nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng. Thay vì các khẩu hiệu chung chung, cần xác định mục tiêu cụ thể, có thể đo lường và có thời hạn hoàn thành rõ ràng. Vai trò của người đứng đầu và tổ chức Công đoàn Điện lực Việt Nam là cực kỳ quan trọng. Lãnh đạo phải là người truyền cảm hứng, trực tiếp theo dõi, đôn đốc và tạo điều kiện cho phong trào. Công đoàn cần phát huy vai trò trong việc tuyên truyền, vận động, đồng thời giám sát để đảm bảo sự công bằng trong bình xét. Việc phát hiện, bồi dưỡng và nhân rộng các điển hình tiên tiến EVN, các gương người tốt việc tốt ngành điện là một nhiệm vụ cốt lõi. Những tấm gương sống động này sẽ có sức lan tỏa mạnh mẽ, tạo ra khí thế thi đua sôi nổi trong toàn tập thể, góp phần nâng cao năng suất lao động một cách bền vững.

4.1. Gắn kết nội dung thi đua với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh

Để thi đua đi vào thực chất, nội dung của các phong trào phải xuất phát từ chính yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh. Ví dụ, có thể phát động thi đua theo chuyên đề như “Tháng an toàn vệ sinh lao động”, “Chiến dịch kinh doanh và dịch vụ khách hàng”, hoặc “Phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật”. Mỗi phong trào cần có kế hoạch chi tiết, phân công trách nhiệm cụ thể và có cơ chế đánh giá, sơ kết, tổng kết rõ ràng. Khi nhân viên thấy rằng việc tham gia thi đua trực tiếp giúp họ hoàn thành tốt hơn công việc của mình và đóng góp vào mục tiêu chung, họ sẽ tham gia một cách tự nguyện và nhiệt tình hơn.

4.2. Phát huy vai trò của lãnh đạo và Công đoàn Điện lực Việt Nam

Sự thành công của phong trào thi đua phụ thuộc rất lớn vào sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của cấp ủy, lãnh đạo đơn vị. Người lãnh đạo không chỉ phát động mà còn phải là người đồng hành, kiểm tra, động viên và tháo gỡ khó khăn trong quá trình thực hiện. Bên cạnh đó, Công đoàn Điện lực Việt Nam đóng vai trò là cầu nối, vận động đoàn viên, người lao động tích cực hưởng ứng. Công đoàn cũng là tổ chức đại diện, bảo vệ quyền lợi cho người lao động, đảm bảo quá trình bình xét thi đua cuối năm diễn ra dân chủ, công bằng, tránh được các tiêu cực có thể phát sinh, qua đó củng cố niềm tin và sự gắn kết nhân viên điện lực.

V. Kết quả thực tiễn Tăng năng suất qua thi đua khen thưởng

Việc áp dụng hiệu quả công tác thi đua khen thưởng đã mang lại những kết quả tích cực, có thể đo lường được trong hoạt động của nhiều đơn vị thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Thực tiễn cho thấy, nơi nào phong trào thi đua được tổ chức bài bản, công tác khen thưởng được thực hiện công bằng, nơi đó tinh thần làm việc của nhân viên được nâng cao rõ rệt. Điều này trực tiếp dẫn đến việc nâng cao năng suất lao động và chất lượng công việc. Các phong trào thi đua chuyên đề như giảm suất hao nhiên liệu, tối ưu hóa vận hành, hay áp dụng công nghệ mới đã giúp EVN tiết kiệm hàng tỷ đồng chi phí sản xuất. Số lượng sáng kiến cải tiến kỹ thuật được đăng ký và áp dụng tăng lên hàng năm, cho thấy sự trỗi dậy của tinh thần sáng tạo trong đội ngũ người lao động. Hơn nữa, các phong trào thi đua còn là môi trường tốt để phát hiện và bồi dưỡng những nhân tố tích cực. Nhiều điển hình tiên tiến EVN đã trưởng thành từ chính các phong trào này, trở thành những tấm gương sáng, có sức ảnh hưởng tích cực đến đồng nghiệp. Kết quả này khẳng định rằng, đầu tư vào công tác thi đua khen thưởng chính là đầu tư vào con người, một sự đầu tư mang lại lợi ích bền vững cho sự phát triển của doanh nghiệp.

5.1. Những điển hình tiên tiến EVN và hiệu ứng lan tỏa tích cực

Thành công của công tác thi đua được thể hiện rõ nét qua việc xây dựng và nhân rộng các điển hình tiên tiến EVN. Đây là những tập thể, cá nhân có thành tích đặc biệt xuất sắc, là những gương người tốt việc tốt ngành điện. Việc tôn vinh họ không chỉ là sự ghi nhận xứng đáng mà còn tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ. Câu chuyện về những người thợ điện vượt khó, những kỹ sư với các sáng kiến làm lợi hàng tỷ đồng được tuyên truyền rộng rãi sẽ truyền cảm hứng, thôi thúc các nhân viên khác học tập và noi theo. Các điển hình này chính là minh chứng sống động cho thấy sự nỗ lực luôn được đền đáp, từ đó củng cố niềm tin và tạo ra một môi trường làm việc tích cực, nơi mọi người cùng nhau phấn đấu vì mục tiêu chung.

5.2. Đo lường hiệu quả Hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh

Hiệu quả của thi đua khen thưởng có thể được đo lường thông qua các chỉ số kinh doanh cụ thể. Báo cáo của EVN trong giai đoạn 2017-2020 (Bảng 2.1, Luận văn Bùi Hà Trung) cho thấy sự tăng trưởng ổn định trong sản xuất và kinh doanh. Các phong trào thi đua hướng tới việc hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh đã góp phần quan trọng vào kết quả này. Khi các mục tiêu thi đua được xây dựng bám sát vào mục tiêu kinh doanh của đơn vị, mỗi thành tích của cá nhân sẽ trực tiếp đóng góp vào thành công chung. Việc khen thưởng dựa trên kết quả thực tế này tạo ra một cơ chế khuyến khích mạnh mẽ, đảm bảo mọi nỗ lực đều hướng tới việc nâng cao hiệu quả hoạt động tổng thể của Tập đoàn.

26/09/2025
Luận văn thạc sĩ nâng cao động lực làm việc của cán bộ công nhân viên tập đoàn điện lực việt nam thôngqua công tác thi đua khen thưởng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÁN BỘ, CÔNG NHÂN VIÊN THÔNG QUA CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG 1. Động lực làm việc của cán bộ, công nhân viên 1. Một số khái niệm liên quan 1. Động lực Động lực làm việc là một trong những yếu tố quan trọng, quyết định năng suất, hiệu quả hoạt động của một tổ chức.

Hiểu một cách đơn giản nhất, động lực là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường sự nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức. Qua tham khảo một số tài liệu của Việt Nam, tác giả nhận thấy rằng, động lực đã được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Để có thể hiểu được bản chất của động lực làm việc, cần có một cách tiếp cận khoa học và cụ thể hơn qua một số khái niệm sau: Động lực (ở đây xét trên góc độ tâm lý) có thể được hiểu là những tính năng tâm lý gợi lên cho người ta hành động, hướng tới một mục tiêu mong muốn; động lực kiểm soát và duy trì những mục tiêu có tác dụng định hướng cho hành vi, là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng đến bản thân đạt được mục tiêu cá nhân và mục tiêu tổ chức [22, tr18]. Dựa trên quan điểm về động lực nói trên, một nghiên cứu đã đưa ra khái niệm động lực: Động lực được nhìn nhận là một hiện tượng tâm lý thúc đẩy, quy định sự lựa chọn và định hướng của hành vi.

Cũng với cách tiếp cận này, một khái niệm khác được đưa ra với cách hiểu tương tự khi cho rằng động lực của người lao động là những nhân tố bên 11 trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Khái niệm này còn đưa ra biểu hiện của động lực chính là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động. Như vậy, động lực có thể được hiểu là những nhân tố bên trong thuộc về tâm lý, gợi cho người ta hành động, kích thích con người nỗ lực hướng tới mục tiêu thông qua những hành vi đã được định hướng. Tạo động lực Để có được động lực cho người lao động làm việc thì phải tìm cách tạo ra được động lực đó.

Để có thể tạo được động lực cho người lao động cần phải tìm hiểu họ làm việc nhằm đạt được mục tiêu gì từ đó thúc đẩy động cơ lao động của họ [17,tr85]. Tạo động lực cho người lao động được hiểu là tất cả các biện pháp của nhà quản lý áp dụng đối với các cá nhân trong tổ chức nhằm tạo ra động lực làm việc cho họ. Với cách hiểu như ở trên về động lực, thì tạo động lực làm việc là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động trong thực thi công việc để đạt được kết quả tốt nhất các mục tiêu của tổ chức đề ra. Do đó, tạo động lực theo quan điểm của tác giả chính là quá trình sử dụng, tổng hợp cách thức, biện pháp nhằm khuyến khích, động viên, khơi dậy niềm khát khao, tinh thần tự giác, tự nguyện của người lao động để họ nỗ lực, phấn đấu cho mục tiêu hoàn thành công việc được giao với kết quả tốt nhất, qua đó góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả, sự thành công của tổ chức.

Một số học thuyết tạo động lực 1. Thuyết nhu cầu của Maslow Maslow đặt ra giả thuyết cho rằng trong mọi con người đều tồn tại một hệ thống nhu cầu 5 thứ bậc, bao gồm: 12 Nhu cầu sinh lý: Là những nhu cầu cơ bản để có tể duy trì bản thân cuộc sống con người (thức ăn, quần áo mặc, nước uống, nhà ở). Nhóm nhu cầu này được xếp ở tầng thấp nhất. Dựa trên nhu cầu sinh lý, tổ chức có thể tạo động lực làm việc thông qua việc đảm bảo được điều kiện làm việc cơ bản cũng như đảm bảo mức lương phù hợp.

Nhu cầu an toàn: Là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về thân thể và sự đe dọa mất việc làm, mất tài sản. Loại nhu cầu này được xếp cấp độ thứ hai, sau nhu cầu sinh lý. Nhu cầu này đòi hỏi tổ chức cần đáp ứng các điều kiện an toàn về môi trường là việc, phúc lợi xã hội… trong quá trình tạo động lực làm việc cho người lao động trong tổ chức. Nhu cầu xã hội: Là những nhu cầu được quan hệ với những người khác để trao và nhận tình cảm, sự quý mến, sự chăm sóc hay sự hợp tác.

Đây thuộc về nhu cầu bạn bè, giao tiếp của con người. Đối với nhu cầu xã hội, tổ chức muốn tạo được động lực làm việc cần quan tâm đến việc tạo môi trường làm việc gắn kết thân thiện giữa người lao động trong tổ chức, chú trọng đến các hoạt động xã hội, hoạt động hướng ngoại. Bên cạnh đó cần có sự hợp lý, công bằng, bình đẳng giữa các nhân viên trong thực hiện các quy định của tổ chức. Nhu cầu được tôn trọng: Là nhu cầu có địa vị, được người khác công nhận và tôn trọng và nhu cầu tự tôn trọng mình.

Nhu cầu loại này đề cập tới sự mong muốn đạt được quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tự trọng. Nhu cầu tự hoàn thiện: Là nhu cầu được trưởng thành và phát triển, được biến các khả năng, tiềm năng của mình thành hiện thực, hoặc là nhu cầu đạt được các thành tích mới, nhu cầu sáng tạo. Maslow xem đây là nhu cầu bậc cao nhất trong cách phân cấp của ông. Maslow cho rằng mỗi nhu cầu được thỏa mãn sẽ làm cho nhu cầu tiếp theo trở nên quan trọng.

Sự thỏa mãn nhu cầu đó được gọi là tạo động lực. Và một khi nhu cầu được thỏa mãn một cách căn bản thì nó không còn khả năng tạo động lực nữa [15]. Thuyết tăng cường tích cực của Skinner F. Skinner cho rằng nhà quản lý có thể có những hình thức tăng cường nhằm thay đổi hành vi của người lao động.

Theo đó, hành vi thúc đẩy của một người là hành vi hiểu biết và chịu ảnh hưởng bởi phần thưởng và hình phạt mà người đó nhận được trong một tình huống tương tự đã trải qua trước đây. Trong đó, có ba hình thức tăng cường như sau: - Tăng cường dương tính (tăng cường tích cực): bằng sự khen thưởng một nhân viên, nhà quản lý sẽ khuyến khích người nhân viên đó lặp lại những gì anh ta đã làm trước đây. Phần thưởng có thể là tiền, quyết định đề bạt, hình thức khen thưởng… - Tăng cường âm tính (giảm thiểu hành vi) bằng hình phạt, nhà quản trị hay quản lý sẽ quở trách nhân viên về lỗi anh ta mắc phải. Người nhân viên đó sẽ biết những gì không được làm; tuy nhiên, anh ta cũng không biết được công việc đúng để làm.

- Sự lựa chọn thứ ba: làm lơ, coi như không biết việc làm sai của nhân viên. Sự lựa chọn này chỉ có thể thích hợp khi nhà quản lý nghĩ rằng hành vi sai lầm đó chỉ là tạm thời hoặc nó không nghiêm trọng đến mức phải sử dụng hình phạt [15]. Thuyết hai yếu tố của F. Herzberg đã chỉ ra rằng những yếu tố tạo ra cảm giác tích cực, thỏa mãn và yếu tố tạo ra sự tiêu cực, bất mãn là độc lập với nhau.

Ông chia các yếu tố có liên quan thành hai nhóm, nhóm các yếu tố duy trì và nhóm các yếu tố thúc đẩy. - Nhóm các yếu tố duy trì bao gồm các yếu tố liên quan đến phạm vi công việc như lương, phúc lợi, điều kiện làm việc, sự quản lý, giám sát, các mối quan hệ công việc… 14 Nhóm các yếu tố thúc đẩy bao gồm các yếu tố liên quan đến nội dung công việc như sự thách thức của công việc, cơ hội thăng tiến, trách nhiệm, sự công nhận và ý nghĩa các thành tựu. Học thuyết này giúp cho các nhà quản lý biết được các yếu tố gây ra sự bất mãn cho người lao động và từ đó tìm cách loại bỏ những nhân tố này. Tuy nhiên khi các nhân tố gây bất mãn được loại bỏ thì cũng không có nghĩa là người lao động sẽ hài lòng.

Nếu muốn động viên, tạo động lực làm việc thì cần chú trọng đến những yếu tố như sự thành đạt, sự thừa nhận và giao việc. Người lao động sẽ cảm thấy hài lòng với công việc khi họ được giao việc đúng khả năng và tính cách của mình, có cơ hội để học tập, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp và được thăng tiến. Nếu như nhóm yếu tố duy trì chỉ đảm bảo được mức làm việc ổn định (ở mức trung bình) nhưng không làm cho con người làm việc tốt hơn thì nhóm các yếu tố thúc đẩy lại tạo cho con người cảm giác hứng thú, tăng năng suất lao động bởi chính công việc của họ. Đây chính là các yếu tố có tác dụng thúc đẩy thật sự, tạo nên động lực làm việc [15].

Học thuyết kỳ vọng của Victor Vroom Kỳ vọng chính là mong muốn nhận được cái gì sau khi hoàn thành một công việc hoặc một nhiệm vụ nào đó. Nếu ta biết được mong muốn của người lao động thì sẽ kích thích họ nỗ lực làm việc hơn từ đó sẽ tạo ra thành tích cao hơn. Nếu kích thích đúng thì sẽ tạo ra lợi ích cho cả hai phía là người lao động và tổ chức. Nỗ lực của người lao động căn cứ vào phần thưởng sau khi thực hiện xong công việc mang lại cho họ.

Nếu phần thưởng mang lại mà tích cực như tiền lương cao, cơ hội thăng tiến. thì họ sẽ cố gắng, nỗ lực làm việc. Nhưng nếu phần thưởng mang lại tiêu cực như mệt mỏi, nhàm chán, chịu áp lực cao. thì họ cũng có thể cố gắng nhưng đó không phải là động lực mà là sự ép buộc, nếu chịu áp lực quá có thể họ sẽ rời bỏ tổ chức.

15 Học thuyết này nhấn mạnh đến công tác trả công, trả thưởng cho người lao động. Đây là một vấn đề rất nhạy cảm và có tác động lớn đối với người lao động. Người lao động muốn tối đa hóa độ thỏa mãn được kỳ vọng của mình, còn nhà quản lý phải quan tâm đến mức tiền công, tiền thưởng để đảm bảo chi phí đó không vượt quá kết quả làm được của người lao động nhưng vẫn đảm bảo sức hấp dẫn đối với họ. Học thuyết này do Victor H.

Vroom, người gốc Canada đưa ra.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ