CHƯƠNG 1: THI PHÁP HỌC VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THI PHÁP HỌC HIỆN ĐẠI Ở VIỆT NAM Thi pháp học là bộ môn khoa học có hàng nghìn năm tuổi, đeo trên ngực hàng chục "huân chương cao quí" do giới nghiên cứu, phê bình văn học sắc phong vì có "chiến công" "giải phóng" hình thức nghệ thuật, nâng hình thức nghệ thuật trong cái nhìn độc lập, biện chứng với nội dung của chỉnh thể nghệ thuật và giữ cho văn học hương vị đặc trưng nghệ thuật được thanh khiết, cao quí. Hình dung như thế để thấy rằng, không thể viết một tiểu luận, chuyên luận về thi pháp học là có thể phản ánh được toàn diện sự vận động và phát triển cũng như đặc trưng của thi pháp học. Viết luận văn này chúng tôi có đặt thành một chương: Thi pháp học và tình hình nghiên cứu thi pháp học hiện đại ở Việt Nam. Đặt tên chương như vậy, nhưng chúng tôi chỉ hướng tới mục tiêu trong giới hạn hẹp: - Làm rõ nội dung các thuật ngữ, khái niệm liên quan tới phạm vi, đối tượng của luận văn.
- Đánh giá, nhận xét một cách khái quát về thi pháp học trên thế giới và thi pháp học ở Việt Nam. - Mục tiêu là dựng dòng chảy của thi pháp học trên thế giới từ cổ đại tới đương đại, của thi pháp học hiện đại ở Việt Nam từ những năm 80 trở lại đây. Qua đó, nhằm tạo phông nền để đánh giá khách quan, thỏa đáng đóng góp của Trần Đình Sử về thi pháp học. Do vậy, mọi sự đi sâu, đánh giá toàn diện về thi pháp học nói chung đều nằm ngoài lựa chọn của chúng tôi.
THI PHÁP HỌC VÀ CÁC PHẠM TRÙ THI PHÁP 1. Khái niệm thi pháp, thi pháp học. Khái niệm thi pháp, thi pháp học được giới nghiên cứu phê bình văn học quan tâm không chỉ ở quan niệm về một ngành khoa học mà chính là ở quan niệm thường trực về bản thể luận văn học. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các công trình, tiểu luận về thi pháp học hoặc nghiên cứu văn học theo hướng thi pháp học đều khẳng định thuật ngữ thi pháp xuất hiện từ thời cổ đại, trong công trình "kinh điển" của Aristote "Nghệ thuật thi ca" (cách đây hơn 2300 năm).
Thuật ngữ thi pháp (poetics, póetique) có nội hàm khởi thủy là cách, biện pháp, phương pháp mô phỏng, bắt chước để sáng tạo văn học. Nội hàm này được Aristote đề xuất: "Sử thi, bi kịch thì cũng như hài kịch và thơ ca tụng tửu thần, đại bộ phận nhạc sáo, nhạc đàn lục huyền - tất cả những cái đó, nói chung đều là, những nghệ thuật mô phỏng, giữa chúng có ba điểm khác nhau; hoặc thực hiện sự mô phỏng bằng cái gì hoặc mô phỏng cái gì; hoặc mô phỏng như thế nào - cho nên không phải lúc nào cũng giống nhau cả" [1, trg 11-12]. Về sau, các nhà nghiên cứu thường dịch là nghệ thuật thơ ca, phép làm thơ. Từ điển Tiếng Việt [95] năm 1997, Hoàng Phê chủ biên, hiểu thi pháp là phương pháp, qui tắc làm thơ; Sổ tay từ Hán Việt do Phan Văn Các, Lại Cao Nguyện biên soạn năm 1989 [7], hiểu thi pháp có hai nghĩa: 1.
Phép làm thơ, 2. Nghệ thuật thơ văn. Còn Từ điển của Pháp 1998 cho biết thi pháp xuất phát từ động từ tiếng Hi Lạp nghĩa là "làm". Nghệ thuật cấu tạo thơ.
Lý thuyết thuộc về bên trong của văn bản. Toàn bộ những lựa chọn thuộc về văn học được nhà văn thực hiện trong tác phẩm [31, trg 30]. Như thế, thuật ngữ thi pháp từ khởi thủy tới hiện đại được bổ sung, mở rộng nội hàm. Tuy vậy, thuật ngữ này luôn bảo lưu hai nét nghĩa: 1.
Cách làm thơ. Tính nghệ thuật được nhà văn lựa chọn để sáng tạo văn chương. Ở Trung Quốc, thuật ngữ thi pháp thường được các học giả từ đời Tống trở đi nói tới: Thế kỷ XIII có sách Thi pháp chính tông của Yết Khê Tư; thế kỷ XVI có Thi pháp chính luận của Phó Nhược Kim. Nội dung được nói tới của thuật ngữ thi pháp thường là phép làm thơ, vận luật thơ, hay là những nguyên tắc tạo hình, cấu tứ, cốt cách [69, trg 55].
Ở Việt Nam, khái niệm thi pháp, thi pháp học xuất hiện khá muộn, phải đến những năm 80 của thể kỷ XX mới được xác định. Theo Nguyễn 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Xuân Kính thuật ngữ thi pháp, thi pháp học xuất hiện sớm nhất trong các bài báo: Một số vấn đề lý thuyết chung về mối quan hệ văn học dân gian với văn học viết của Lê Kinh Khiên (1980), Về việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian của Chu Xuân Diên (1980), Chung quanh khái niệm thi pháp trong khoa nghiên cứu văn học Xô Viết hiện nay của Vương Trí Nhàn (1981) [46, trg 53-56]. Và, chỉ đến Trần Đình Sử trong chuyên luận Thi pháp thơ Tố Hữu năm 1985, thi pháp, thi pháp học mới được hiểu, sử dụng theo nội hàm hiện đại. Nguyễn Văn Dân cho rằng, thuật ngữ thi pháp, thi pháp học,qua cách hiểu, giải thích và tiếp nhận ở Trần Đình Sử, đã mang tính nghề nghiệp, có khả năng ứng dụng cao.
Nguyễn Văn Dân viết:“thuật ngữ thi pháp hay thi pháp học được dùng để chỉ một khái niệm nghề nghiệp mới, dễ có khả năng khái quát hóa thành các công thức, các mô hình, các qui phạm có khả năng vận dụng, thao tác” [9, trg 23]. Giữa thi pháp và thi pháp học có mối quan hệ qua lại biện chứng, đó là: quan hệ giữa đối tượng - khoa học về đối tượng ấy,giữa nghệ thuật - khoa học, giữa cụ thể - trừu tượng, khái quát. Về quan hệ giữa thi pháp và thi pháp học, Nguyễn Xuân Kính giải thích: "thi pháp là một tồn tại khách quan, là cái có trước, nó xuất hiện từ khi loài người bắt đầu biết sáng tạo nghệ thuật một cách tự giác. Thi pháp học là khoa học nghiên cứu về thi pháp, là cái có sau” [46, trg 20].
Chính vì thi pháp có nội hàm rộng chứa đựng trong nó vừa là văn học, vừa là quá trình văn học; do đó, thuật ngữ thi pháp và thi pháp học thuộc vào số những thuật ngữ được sử dụng sớm nhất và có sức sống lâu dài nhất của khoa nghiên cứu văn học. Trong các ngành khoa học, chúng ta thấy có hiện tượng tên gọi của khoa học thường trùng khít hoàn toàn với tên gọi của đối tượng mà nó nghiên cứu như: Lịch sử vừa là lịch sử trong thực tế vừa là sử học; phong cách vừa là đối tượng của phong cách học vừa là khoa học về phong cách. Thuật ngữ thi pháp cũng vậy, "khái niệm này cũng vừa chỉ khoa học nhưng cũng vừa chỉ các thuộc tính của các hiện tượng văn học mà nó nghiên cứu" [44, trg 32]. Ở Việt Nam, mặc dù có sự phân biệt thi pháp và thi pháp học, nhưng trong nghiên cứu vẫn đồng nhất tên gọi vừa 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com là đối tượng vừa là khoa học về đối tượng ấy, ví như: Thi pháp thơ Tố Hữu, Thi pháp Truyện Kiều (Trần Đình Sử), Thi pháp ca dao (Nguyễn Xuân Kính), Thi pháp thơ Huy Cận (Trần Khánh Thành).
Nếu như nội dung thuật ngữ thi pháp được hiểu khá thống nhất thì khái niệm thi pháp học cho đến nay còn nhiều sự khác biệt [xem thêm trong 77, 31, 90, 91]. Điều này có thể xuất phát từ chính sự mở rộng biên độ nội hàm của đối tượng nghiên cứu.Vì thế, dẫn đến sự mở rộng phạm vi nghiên cứu của thi pháp học. Hơn nữa, sự tiếp cận, nghiên cứu thi pháp học của các học giả phần lớn đều dựa trên những tiền đề khoa học, triết học, phê bình khác nhau: Chủ nghĩa cấu trúc, hiện tượng học, phân tâm học, chủ nghĩa thực chứng, chủ nghĩa hình thức, ngôn ngữ học, dẫn đến những định nghĩa, khái niệm chưa đồng nhất. Về phương diện định nghĩa, khái niệm, chúng tôi nêu định nghĩa khái niệm của Từ điển thuật ngữ văn học, chủ biên: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi: "Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp, tức hệ thống các phương tiện biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học.
Mục đích của thi pháp học là chia tách và hệ thống hóa yếu tố của văn bản nghệ thuật tham gia vào sự tạo thành thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mỹ, chiều sâu phản ánh của sáng tác nghệ thuật. Xét các chỉnh thể văn học thi pháp có thể nói tới thi pháp tác phẩm cụ thể, thi pháp một trào lưu thi pháp văn học một thời đại, thời kỳ lịch sử. Xét các phương tiện, phương thức nghệ thuật đã được chia tách, có thể nói tới thi pháp của thể loại thi pháp của phương pháp, thi pháp kết cấu, thi pháp không gian, thời gian, thi pháp ngôn ngữ. Xét về cách tiếp cận, thi pháp học đại cương (còn gọi là thi pháp học lí thuyết, thi pháp học hệ thống hóa hay thi pháp học vĩ mô), thi pháp học chuyên biệt (hay còn gọi là thi pháp hóa miêu tả vi mô) và thi pháp học lịch sử.
Thi pháp học đại cương lại được chia thành ba bộ phận, tương ứng với ba phương diện của văn bản; ngữ âm, từ vựng và hình tượng. Mục 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đích của thi pháp học đại cương là xây dựng một hệ thống trọn vẹn các thủ pháp (tức là các yếu tố tác động thẩm mĩ), bao quát cả ba phạm vi trên, từ các biện pháp ngữ âm cho tới các hình tượng, môtip, cốt truyện. Phương tiện thi pháp hình tượng ít được nghiên cứu hơn cả, vì một thời gian dài người ta cho rằng thế giới nghệ thuật không khác gì so với thực tại, do đó đến nay lĩnh vực này vẫn chưa có một hệ thống hóa được chấp nhận phổ biến về các phương tiện nghệ thuật. Thi pháp học chuyên biệt tiến hành việc miêu tả tất cả các phương tiện nói trên của sáng tác văn học nhằm xây dựng "mô hình" - hệ thống cá biệt của các thuộc tính tác động thẩm mĩ của tác phẩm.
Vấn đề chính ở đây là kết cấu, tức là các tương quan của tất cả các yếu tố nói trên trong chỉnh thể nghệ thuật. Các khái quát cuối cùng mà sự phân tích các phương tiện nghệ thuật sẽ dẫn đến là hình tượng thế giới (với đặc điểm cơ bản của nó là không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật và hình tượng tác giả. Tác động qua lại của hai khái niệm này tạo nên điểm nhìn nghệ thuật có tác dụng quy định tất cả mọi điều cơ bản của cấu trúc tác phẩm.