phần mở đầu gồm ( lời nói đầu, giới thiệu chung vấn đề nghiên cứu, tổng quan lịch sử nghiên cứu, mục tiêu, phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu đã đƣợc thực hiện), kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng : Chƣơng 1. Cơ sở lý luận Chƣơng 2. Thực trạng hoạt động NCKH và động cơ NCKH của cán bộ giảng viên trƣờng ĐH KHTN – ĐHQG HN Chƣơng 3. Giải pháp thúc đẩy động cơ NCKH của CB-GV nhà trƣờng Kết luận và Khuyến nghị.
16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Quản lý KH-CN Quản lý là hoạt động có chủ đích, đƣợc tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý [16, tr. Theo đó, quản lý KH-CN là quản lý các hoạt động KH-CN, nó bao gồm nội dung rộng và đa dạng hơn nhiều so với quản lý R-D với nghĩa hẹp.
Theo Unesco, hoạt động KH-CN bao gồm tất cả các hoạt động liên quan tới sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các kiến thức KH-CN trong thực tiễn và đời sống. Theo Luật KH-CN, hoạt động KH-CN bao gồm: NCKH, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ KH-CN, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển KH-CN [23]. Cũng theo Luật KH-CN, mục tiêu của hoạt động KH-CN của nƣớc ta là : xây dựng nền KH-CN tiên tiến, hiện đại để phát triển lực lƣợng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trƣờng; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con ngƣời mới Việt Nam; góp phần phát triển nhanh, bền vững kinh tế - xã hội, nâng cao chất lƣợng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo quốc phòng an ninh. Quản lý KH-CN bao gồm : Hoạch định chiến lƣợc phát triển KH-CN; lập kế hoạch và quy hoạch dài hạn; cải cách thể chế hoạt động KH-CN; ban hành các văn bản pháp luật KH-CN; sắp xếp, tổ chức mạng lƣới cơ quan khoa học; thực hiện các chƣơng trình NCKH; quản lý và áp dụng rộng rãi các thành quả thu đƣợc; chuyển giao công nghệ, quản lý kinh phí cho KH-CN; quản lý nhân lực KH-CN; quản lý vật tƣ phục vụ NCKH; thông tin KH-CN; thanh tra KH-CN và nhiều nội dung khác nữa [16, tr.28] 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Do tính không chắc chắn của công cuộc tìm tòi, khám phá cái mới, không giống các hoạt động ổn định, lặp đi lặp lại trong sản xuất thông thƣờng nên quản lý KH-CN cũng là một lĩnh vực quản lý đặc thù.
Đó chính là tính linh hoạt, tính mềm, hay tính cơ động của quản lý [16, tr. Nhƣ vậy quản lý KH-CN là một hoạt động đặc thù. Đó cũng chính là một nghề nghiệp riêng, có những tiêu chí và chuẩn mực hành động đặc thù so với nhiều lĩnh vực hoạt động khác trong xã hội [17]. Quản lý KH-CN là một nghề, thì những ngƣời làm quản lý trong lĩnh vực này cũng phải đƣợc đào tạo bồi dƣỡng thƣờng xuyên để đáp ứng đƣợc yêu cầu ngày càng cao của công việc quản lý.
Nghiên cứu khoa học Nghiên cứu Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới về tự nhiên và xã hội. Những kiến thức hay học thuyết này tốt hơn có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp. Nhƣ vậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tƣ duy. Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội.
Phân biệt ra 2 hệ thống tri thức: Tri thức kinh nghiệm và Tri thức khoa học. - Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết đƣợc tích luỹ qua hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời và giữa con ngƣời với thiên nhiên. Quá trình này giúp con ngƣời hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa con ngƣời trong xã hội. Tri thức kinh nghiệm đƣợc con ngƣời không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế.
Tuy nhiên tri thức kinh nghiệm chƣa thật sự đi sâu vào bản chất, chƣa thấy hết đƣợc các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con ngƣời. Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhƣng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tri thức khoa học: là những hiểu biết đƣợc tích luỹ một cách có hệ thống nhờ hoạt động NCKH, các hoạt động này có mục tiêu xác định và sử dụng phƣơng pháp khoa học. Không giống nhƣ tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập đƣợc qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên.
Tri thức khoa học đƣợc tổ chửc trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học (disclipline) nhƣ: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học, tâm lý học. Vậy NCKH là gì ? NCKH là hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra hoặc thử nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức, kết quả thí nghiệm… để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phƣơng pháp và phƣơng tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn. Con ngƣời muốn NCKH phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu và cái chính phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phƣơng pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trƣờng.
Định nghĩa động cơ Nhiều nhà tâm lý học định nghĩa động cơ theo nghĩa rộng nhƣ, P.Young coi “động cơ là cái quy định hành vi nói chung”; J.Guiford định nghĩa “Động cơ là một trạng thái bất kì nào đó quy định, điều khiển và duy trì tính tích cực”; L.Bozovic coi động cơ là “nguyên nhân tâm lý của hoạt động [25, tr. Với cách hiểu nhƣ vậy sẽ gặp khó khăn đó là quy tất cả mọi yếu tố thúc đẩy quy định hành vi vào lĩnh vực động cơ, động cơ không có sự phân biệt rõ ràng với các yếu tố tâm lý khác. Một số nhà tâm lý học lại thu hẹp khái niệm động cơ, ví dụ nhƣ S.Frued coi động cơ nhƣ bản năng sống, chết, ham muốn khoái lạc nhục dục.Adler cho rằng : động cơ là ham muốn dành vị trí thống trị và địa vị siêu đẳng.Lewin cho rằng : động cơ là mối tƣơng quan giữa trƣờng lực bên ngoài và nội 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lực tâm lý bên trong. Medofin coi động cơ là sự thay đổi hoocmon và khoái cảm, đƣợc kích thích bằng dòng điện…với các định nghĩa nhƣ vậy đã quy động cơ vào những yếu tố sinh vật, bản năng và hiểu máy móc động cơ con ngƣời: J.Piegie cho rằng tính định hƣớng tích cực có chọn lọc của hành vi tạo thành bản chất của hiện tƣợng đƣợc xác định là động cơ; Rubinstein coi “Động cơ là sự quy định về mặt chủ quan hành vi con ngƣời bởi thế giới, sự quy định này thể hiện gián tiếp bằng quá trình phản ánh động, thông qua động cơ của mình, con ngƣời liên hệ với bối cảnh hiện thực: [25, tr.Smith định nghĩa động cơ nhƣ một quá trình bên trong có ảnh hƣởng đến hƣớng, tính bền vững và sức mạnh của hành vi có mục đích [12, tr.Leonchiev khẳng định “động cơ chính là đối tƣợng có khả năng đáp ứng nhu cầu đã đƣợc chủ thể tri giác, biểu tƣợng, tƣ duy…đó là sự phản ánh chủ quan về đối tƣợng thoả mãn nhu cầu.
Động cơ có chức năng thúc đẩy và định hƣớng hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu. Qua các định nghĩa trên có thể hiểu một cách chung nhất động cơ là một hiện tƣợng tâm lý thúc đẩy quy định sự lựa chọn và hƣớng của hành vi. Bản chất xã hội của hiện tượng động cơ Động cơ con ngƣời mang bản chất xã hội. Các động cơ nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần, nhận thức, tình cảm, giao lƣu…là đặc trƣng nổi bật của con ngƣời.
Động cơ của con ngƣời đƣợc đặc trƣng hình thành bởi các mối quan hệ xã hội, trong quá trình hoạt động của chủ thể mà nó tham gia vào chứ không thể có sẵn từ lúc đứa bé mới sinh ra. Hệ thống động cơ của con ngƣời đƣợc hình thành trên cơ sở hoạt động giao tiếp của chủ thể trong hệ thống các quan hệ xã hội, các nhóm xã hội nhất định mà ở đó chủ thể thực hiện vai trò, vị thế của mình. Kể cả những động cơ đáp ứng những nhu cầu tự nhiên, bản năng thì ở con ngƣời, những động cơ ấy cũng có bản chất lịch sử, xã hội. Sở dĩ nhƣ vậy là vì kể cả những nhu cầu tự nhiên của con ngƣời cũng có nội dung và 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phƣơng thức thoả mãn đều là sản phẩm phát triển của xã hội do con ngƣời sáng tạo ra, phụ thuộc vào điều kiện sống, đặc biệt là lối sống – văn hoá đặc trƣng cho mỗi nhóm nguời, mỗi một dân tộc, phụ thuộc vào trình độ phát triển, kinh tế xã hội của thời đại mà họ đang sống và đồng thời phụ thuộc vào quá trình giáo dục mà họ đang đƣợc thụ hƣởng.
Bộ mặt tâm lý xã hội của cá nhân đều đƣợc thể hiện tập trung trong động cơ. Tất cả các thành tố nhân cách đều có quan hệ chặt chẽ với động cơ chung của cuộc sống, cũng nhƣ động cơ cụ thẻ của từng hành động. Đặc điểm của động cơ - Đặc trưng của động cơ là tính ý thức. Ý thức là sự phản ánh tâm lý cao nhất mà chỉ riêng con ngƣời mới có, phản ánh bằng ngôn ngữ, là khả năng con ngƣời hiểu đƣợc các tri thức mà con ngƣời tiếp thu đƣợc.
Để một nhu cầu trở thành động cơ thúc đẩy hoạt động thì trƣớc hết nó phải đƣợc đối tƣợng hoá (tức là đối tƣợng của nhu cầu phải đƣợc chủ thể ý thức một cách đầy đủ), nghĩa là chủ thể phải hình dung ra đối tƣợng nào có thể có khả năng thoả mãn nhu cầu của bản thân mình. Chủ thể cần xây dựng đƣợc một biểu tƣợng cụ thể về nó.