Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Động cơ giảng dạy của giảng viên đại học" do nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Lượt thực hiện năm 2013 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TS. Phạm Thành Nghị và PGS. TS. Nguyễn Sinh Phúc. Luận án thuộc chuyên ngành Tâm lí học xã hội (chương trình đào tạo thí điểm).

Về tính cấp thiết, hoạt động giảng dạy của giảng viên đại học giữ vai trò trực tiếp quyết định chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê tính đến ngày 30/9/2010, cả nước có 414 trường đại học, cao đẳng (334 trường công lập, 80 trường ngoài công lập) với 74.600 giảng viên đào tạo 2.100.000 sinh viên chính quy; tỷ lệ sinh viên trên giảng viên đạt mức 28,9/1 (chưa tính các hệ đào tạo khác). Áp lực quy mô gia tăng cùng hiện tượng giảng viên chuyển công tác khỏi ngành giáo dục phản ánh thực tế động cơ làm việc của một bộ phận người dạy chưa được đáp ứng thỏa đáng. Tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: tại Việt Nam, dưới góc độ chuyên ngành tâm lý học, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về động cơ giảng dạy của giảng viên đại học.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ các vấn đề lý luận về động cơ giảng dạy ở các nhóm giảng viên đại học; phân tích các yếu tố tác động đến động cơ giảng dạy của giảng viên; từ đó đề xuất biện pháp tâm lý sư phạm nhằm tăng cường động cơ giảng dạy ở đội ngũ này.

Luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Phân tích, khái quát hóa những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước có liên quan đến đề tài luận án, từ đó xác định cơ sở lý luận cho nghiên cứu của đề tài.
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng động cơ giảng dạy của giảng viên đại học và sự chuyển biến động cơ giảng dạy ở các nhóm giảng viên khác nhau; phân tích các yếu tố tác động đến động cơ giảng dạy của giảng viên đại học.
  3. Đề xuất các biện pháp tâm lý sư phạm nhằm tăng cường động cơ giảng dạy ở giảng viên trong các trường đại học hiện nay và thử nghiệm biện pháp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giảng viên đại học nhằm tăng cường động cơ nghề nghiệp ở họ.

Hệ thống 4 giả thuyết khoa học bao gồm:

  1. Hoạt động giảng dạy của giảng viên đại học được thúc đẩy bởi một hệ động cơ, trong đó các động cơ hướng đến sự phát triển của người học, động cơ nghề nghiệp thúc đẩy hoạt động giảng dạy của giảng viên mạnh mẽ hơn so với các động cơ tự khẳng định bản thân và động cơ kinh tế/thu nhập.
  2. Động cơ giảng dạy của giảng viên có sự biến đổi theo thời gian hoạt động giảng dạy trong môi trường đại học của họ.
  3. Có các yếu tố chủ quan và khách quan tác động đến động cơ giảng dạy của giảng viên đại học, trong đó sự tác động của các yếu tố chủ quan mạnh mẽ hơn các yếu tố khách quan.
  4. Có thể tăng cường động cơ nghề nghiệp ở giảng viên đại học thông qua biện pháp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giảng viên.

Đối tượng nghiên cứu là các biểu hiện của động cơ giảng dạy của giảng viên đại học và các yếu tố tác động đến động cơ giảng dạy của giảng viên. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở hoạt động giảng dạy và hướng dẫn sinh viên hệ chính quy tại 4 trường đại học trên địa bàn Hà Nội đại diện cho 4 khối ngành: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội (khoa học cơ bản), Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (khoa học kỹ thuật), Học viện Ngân hàng (kinh tế - tài chính ngân hàng), và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (sư phạm). Tổng khách thể khảo sát là 816 người, bao gồm 426 giảng viên (386 chính thức, 40 khảo sát thử), 350 sinh viên (300 chính thức, 50 khảo sát thử), cùng 40 cán bộ quản lý và cán bộ công đoàn.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu của luận án phân tích các công trình trong và ngoài nước theo ba hướng tiếp cận chính:

Thứ nhất, hướng nghiên cứu về thực trạng động cơ giảng dạy. Tại các nước đang phát triển và kém phát triển, Paul Bennell và Kwame Akyeampong (2007) khảo sát tại 12 quốc gia (8 nước thuộc tiểu vùng Sahara châu Phi và 4 nước Nam Á), phát hiện tình trạng thiếu hụt động lực giảng dạy trầm trọng do điều kiện kinh tế và hoàn cảnh xã hội chi phối. Ở bậc đại học tại các quốc gia phát triển, Gerda J. Visser-Wijnveen, Ann Stes và Peter Van Petegem (Bỉ) khảo sát 231 giảng viên đại học tại vùng Antwerp, phân tích động cơ qua ba khía cạnh: sự hiệu quả (efficacy), sự yêu thích (interest) và sự nỗ lực (effort), chứng minh mối liên hệ chặt chẽ giữa niềm tin năng lực bản thân với mức độ nỗ lực giảng dạy.

Thứ hai, hướng nghiên cứu về các yếu tố tác động đến động cơ giảng dạy. Zoltan Dornyei (2001) chỉ ra các yếu tố vĩ mô và vi mô, đồng thời phân tích 5 tác nhân làm suy giảm động lực: căng thẳng tâm lý, giới hạn sự tự chủ, thiếu hụt năng lực cá nhân, thiếu thách thức học thuật và vị trí nghề nghiệp không tương thích. Nghiên cứu của Menyhárt (2008) tại Hungary xác định 5 khía cạnh thúc đẩy bên trong và 2 yếu tố làm giảm động cơ giảng dạy là căng thẳng công việc cùng sự thiếu thốn trang thiết bị, nguồn lực hỗ trợ.

Thứ ba, hướng nghiên cứu về mối quan hệ giữa động cơ của người dạy và thành tích của người học. Các công trình của Deci và cộng sự (1997), Anne P. Sweet, Mercè Bernaus và cộng sự khẳng định động lực và thái độ của giảng viên tác động trực tiếp đến sự tích cực, mức độ chủ động và kết quả học tập của sinh viên thông qua các cơ chế tương tác tâm lý xã hội (như hiệu ứng Pygmalion).

Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận vấn đề ở từng khía cạnh gián tiếp. Báo cáo của Công đoàn Giáo dục Việt Nam hợp tác với Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO, 1998) khảo sát 419 nữ giáo viên tại 6 tỉnh miền núi, vùng sâu (Hà Giang, Tuyên Quang, Đắk Lắk, Ninh Thuận, Trà Vinh, Cà Mau), ghi nhận 10 nhóm nguyện vọng liên quan đến điều kiện lao động và thu nhập. Nguyễn Thị Tình (2009) khảo sát 490 giảng viên tại 4 cơ sở đào tạo, chỉ ra các lý do thúc đẩy giảng dạy chính là cơ hội học tập phát triển và ý nghĩa xã hội của nghề nghiệp. Phạm Thành Nghị và cộng sự thuộc Đại học Hiroshima (2012) khảo sát 800 giảng viên tại 16 trường đại học, ghi nhận 49,6% lý do chuyển trường xuất phát từ thu nhập, trong khi 47,7% lý do gắn bó xuất phát từ sự hợp tác khoa học giữa các đồng nghiệp. Các tác giả khác như Hoàng Mộc Lan (2004), Nguyễn Văn Đệ (2010), Phạm Văn Thuần (2009), Trần Xuân Bách (2009), Nguyễn Văn Tháp (2009), Nguyễn Thị Tuyết (2007) khảo sát giảng viên dưới các góc độ uy tín nhân cách hoặc quản lý giáo dục.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết là thiết lập một công trình tâm lý học chuyên biệt, hệ thống hóa khung lý luận về cấu trúc hệ động cơ giảng dạy, đo lường các chiều cạnh biểu hiện tâm lý, phân tích mức độ tác động của các yếu tố chủ quan - khách quan và tiến hành thực nghiệm biện pháp tác động nâng cao động cơ nghề nghiệp cho giảng viên đại học ở Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, đặc biệt là nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng về các hiện tượng tâm lý người, nguyên tắc thống nhất tâm lý, ý thức và hoạt động, nguyên tắc phát triển và nguyên tắc hệ thống.

Về các trường phái lý thuyết tâm lý học, tác giả điểm lại:

  • Hướng tiếp cận phân tâm học (Sigmund Freud, Alfred Adler, Erik Erikson, Erich Fromm): giải thích động lực từ bản năng sinh vật và vô thức, bị hạn chế do chưa đánh giá thỏa đáng vai trò của ý thức xã hội.
  • Hướng tiếp cận hành vi (B.F. Skinner, Albert Bandura): giải thích hành vi qua cơ chế củng cố, thưởng phạt và học tập xã hội.
  • Hướng tiếp cận nhân văn (Carl Rogers, Abraham Maslow): nhấn mạnh nhu cầu tự hiện thực hóa tiềm năng và hệ thống nhu cầu 5 bậc.
  • Hướng tiếp cận hoạt động lịch sử - xã hội (A.N. Leontiev, V.G. Aseev; ở Việt Nam có Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quang Uẩn, Lê Đức Phúc, Lê Khanh, Lê Thanh Hương): đây là hướng tiếp cận nền tảng của luận án. Theo đó, động cơ là đối tượng của nhu cầu đã được chủ thể nhận thức, mang bản chất xã hội, hình thành và phát triển thông qua hoạt động và giao tiếp.

Từ cơ sở này, tác giả định nghĩa: "Động cơ giảng dạy của giảng viên là cái thúc đẩy, tạo ra sức mạnh tinh thần, được nảy sinh từ nhu cầu mà đối tượng thoả mãn nó đã được giảng viên ý thức rõ ràng, có chức năng định hướng, thúc đẩy và duy trì hoạt động giảng dạy của giảng viên nhằm chiếm lĩnh đối tượng đó".

Khung phân tích cấu trúc hệ động cơ giảng dạy của giảng viên đại học gồm 4 dạng:

  1. Động cơ tự khẳng định bản thân (M1): mong muốn thể hiện năng lực, uy tín khoa học và vị trí trong mắt đồng nghiệp, sinh viên.
  2. Động cơ vì sự phát triển của người học (M2): mong muốn giúp sinh viên lĩnh hội tri thức, kỹ năng, rèn luyện phẩm chất và trưởng thành về nhân cách.
  3. Động cơ kinh tế/thu nhập (M3): nhu cầu đảm bảo đời sống vật chất, thu nhập, tiền lương và tiền thưởng thông qua hoạt động dạy học.
  4. Động cơ phát triển nghề nghiệp (M4): nhu cầu tích lũy tri thức, nâng cao nghiệp vụ, hoàn thiện kỹ năng chuyên môn và gắn bó với sứ mệnh học thuật.

Dựa trên 26 tiêu chí đánh giá động cơ của A.A. Bodalev và V.V. Stolin cùng quan điểm của Russell và cộng sự về sự cam kết, luận án đo lường động cơ giảng dạy thông qua 3 khía cạnh:

  • Nhận thức: hiểu biết về mục đích, ý nghĩa hoạt động, yêu cầu chuyên môn và các biện pháp thực hiện nhiệm vụ.
  • Thái độ - xúc cảm: các trải nghiệm cảm xúc (hào hứng, yêu nghề hoặc căng thẳng, chán nản) định hình xu hướng dương tính hay âm tính đối với nghề nghiệp.
  • Tính tích cực hành động: cường độ, mức độ nỗ lực, tính kiên trì và sự đầu tư thời gian, sức lực trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu thực tế.

Về phương pháp nghiên cứu thực tế, luận án áp dụng quy trình kết hợp định tính và định lượng:

  • Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu: khảo sát các văn bản pháp quy như Luật Giáo dục đại học năm 2012 (Điều 55) và Điều lệ Trường Đại học (Điều 25).
  • Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến: sử dụng bảng hỏi thiết kế theo thang đo Likert khảo sát 386 giảng viên và 300 sinh viên tại 4 trường đại học.
  • Các phương pháp định tính bổ trợ: quan sát giờ giảng, tọa đàm trao đổi, phỏng vấn sâu cá nhân (với cán bộ quản lý, giảng viên) và phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trên 3 giảng viên cụ thể.
  • Phương pháp thực nghiệm tác động: thiết kế và triển khai khóa bồi dưỡng "Thiết kế môn học và phương pháp giảng dạy" để đo lường sự biến đổi động cơ nghề nghiệp của giảng viên trước và sau thực nghiệm.
  • Kỹ thuật xử lý dữ liệu: sử dụng phần mềm thống kê SPSS để tính toán điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn (SD), phân tích tương quan Pearson, kiểm định khác biệt giữa các nhóm biến số độc lập và phân tích hồi quy.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Lý luận về động cơ giảng dạy của giảng viên đại học

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các khái niệm công cụ. Tác giả phân tích bản chất của hoạt động giảng dạy đại học: đây là hoạt động trí tuệ bậc cao, có mối quan hệ tương hỗ với hoạt động học của sinh viên ("thầy thiết kế - trò thi công"), tạo ra "sản phẩm kép" là sự hoàn thiện nhân cách của người học đồng thời nâng cao phẩm chất chuyên môn của chính người dạy. Công cụ lao động cốt lõi của người giảng viên chính là nhân cách, uy tín khoa học và tri thức của bản thân.

Chương này phân tích 4 đặc điểm cốt lõi của động cơ giảng dạy: tính ý thức, tính thứ bậc (sự phân hóa giữa động cơ tạo ý và động cơ kích thích theo quan điểm của Leontiev), tính biến đổi (sự chuyển dịch thang bậc ưu tiên theo thời gian, độ tuổi, học vị và thâm niên) và tính định hướng/hướng đích. Đồng thời, tác giả phân loại hai nhóm yếu tố tác động: nhóm yếu tố chủ quan (nhận thức nghề nghiệp, phẩm chất, năng lực chuyên môn, đặc điểm tâm sinh lý, sức khỏe) và nhóm yếu tố khách quan (chế độ tiền lương, phụ cấp, cơ sở vật chất, môi trường học thuật, bầu không khí tâm lý trong đơn vị, phong cách lãnh đạo và đặc điểm sinh viên).

Chương 2. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết địa bàn nghiên cứu tại 4 cơ sở giáo dục đại học công lập lớn ở Hà Nội. Cấu trúc mẫu khách thể chính thức được tổng hợp tại bảng sau:

Nhóm khách thể Đơn vị khảo sát Số lượng chính thức (người) Khảo sát thử (người) Tổng cộng (người)
Giảng viên đại học ĐH KHXH&NV, ĐHBK Hà Nội, Học viện Ngân hàng, ĐH Sư phạm Hà Nội 386 40 426
Sinh viên chính quy 4 trường đại học nêu trên 300 50 350
Cán bộ quản lý & Công đoàn Đại diện từ 4 trường đại học nêu trên 40 0 40
Tổng cộng 726 90 816

Tác giả trình bày quy trình xây dựng bảng hỏi, kiểm tra độ tin cậy thang đo, chuẩn hóa tiêu chí đánh giá mức độ động cơ dựa trên 3 khía cạnh biểu hiện (nhận thức, thái độ - xúc cảm, tính tích cực hành động). Chương này cũng thiết lập khung can thiệp thực nghiệm tác động thông qua chương trình tập huấn nâng cao nghiệp vụ sư phạm kéo dài nhằm kiểm chứng khả năng can thiệp tâm lý đối với động cơ nghề nghiệp.

Chương 3. Kết quả nghiên cứu động cơ giảng dạy của giảng viên đại học

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm và thống kê thu được từ mẫu khảo sát:

  1. Thực trạng hệ động cơ giảng dạy: Hoạt động giảng dạy của giảng viên được thúc đẩy đồng thời bởi 4 dạng động cơ, nhưng có sự phân hóa thứ bậc rõ rệt. Động cơ vì sự phát triển của người học (M2) và động cơ phát triển nghề nghiệp (M4) giữ vị trí chủ đạo với điểm trung bình đánh giá ở cả 3 khía cạnh (nhận thức, thái độ - xúc cảm, tính tích cực hành động) đều ở mức cao. Trong khi đó, động cơ tự khẳng định bản thân (M1) và động cơ kinh tế/thu nhập (M3) xếp ở các thứ bậc tiếp theo. Dữ liệu từ sinh viên và cán bộ quản lý có sự tương thích cao với kết quả tự đánh giá của giảng viên.

Bảng tổng hợp đặc điểm các dạng động cơ cấu thành hệ động cơ giảng dạy của giảng viên đại học:

Ký hiệu Dạng động cơ Nội hàm cơ bản trong giảng dạy đại học Thứ bậc thúc đẩy trong thực tiễn
M2 Động cơ vì sự phát triển của người học Trách nhiệm truyền thụ tri thức, rèn luyện kỹ năng, hỗ trợ nhân cách sinh viên trưởng thành Thứ bậc 1 (Mạnh mẽ nhất)
M4 Động cơ phát triển nghề nghiệp Trau dồi nghiệp vụ sư phạm, mở rộng hiểu biết chuyên môn, gắn bó với hoạt động NCKH Thứ bậc 2
M1 Động cơ tự khẳng định bản thân Khẳng định vị thế, danh dự, uy tín khoa học trước đồng nghiệp và sinh viên Thứ bậc 3
M3 Động cơ kinh tế / thu nhập Nhu cầu đảm bảo đời sống, tăng thêm thu nhập từ giảng dạy, lương và các khoản thưởng Thứ bậc 4
  1. Sự chuyển biến và khác biệt giữa các nhóm giảng viên:
  • Theo nhóm ngành: Giảng viên khối khoa học cơ bản (ĐH KHXH&NV) và sư phạm (ĐH Sư phạm Hà Nội) có điểm số động cơ vì người học và động cơ nghề nghiệp thể hiện nổi trội; trong khi giảng viên khối kỹ thuật (ĐH Bách khoa Hà Nội) và tài chính - ngân hàng (Học viện Ngân hàng) có điểm số động cơ kinh tế và tự khẳng định bộc lộ rõ rệt hơn.
  • Theo thâm niên và độ tuổi: Giảng viên trẻ mới vào nghề chịu sự thúc đẩy lớn từ nhu cầu khẳng định bản thân và nhu cầu kinh tế; giảng viên có thâm niên công tác lâu năm và học vị cao (tiến sĩ, phó giáo sư) chuyển dịch ưu tiên mạnh mẽ sang việc khẳng định uy tín khoa học và cống hiến cho sự tiến bộ của người học.
  • Sự tương quan giữa các dạng động cơ: Luận án xác lập sơ đồ tương quan Pearson giữa M1, M2, M3, M4; trong đó động cơ nghề nghiệp và động cơ vì người học có mối quan hệ tỷ lệ thuận chặt chẽ nhất.
  1. Các yếu tố tác động: Kết quả phân tích hồi quy và hệ số tương quan khẳng định các yếu tố chủ quan (nhận thức sứ mệnh nghề nghiệp, năng lực chuyên môn, lòng say mê học thuật) có tác động mạnh mẽ, quyết định đến động cơ giảng dạy hơn so với nhóm yếu tố khách quan (cơ sở vật chất, chính sách đãi ngộ, bầu không khí tâm lý). Dù chế độ kinh tế chưa cao, giảng viên vẫn duy trì tính tích cực giảng dạy nếu có năng lực chuyên môn vững vàng và tinh thần trách nhiệm với sinh viên.

  2. Nghiên cứu trường hợp điển hình: Luận án phân tích sâu 3 trường hợp giảng viên tiêu biểu (Phạm Xuân T., Trần Trung N., Nguyễn Hữu T.), minh chứng sinh động cho mối quan hệ giữa cấu trúc động cơ bên trong với kết quả giảng dạy và năng suất nghiên cứu khoa học trên thực tế.

  3. Kết quả thực nghiệm tác động: Sau khi tham gia khóa đào tạo bồi dưỡng "Thiết kế môn học và phương pháp giảng dạy", giảng viên ở nhóm thực nghiệm có sự gia tăng rõ rệt về nhận thức chuyên môn, kỹ năng sư phạm và đặc biệt là điểm số động cơ phát triển nghề nghiệp (so sánh số liệu trước và sau thực nghiệm có ý nghĩa thống kê ở Bảng 3.28, 3.29, 3.30). Điều này khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết can thiệp tâm lý sư phạm.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Luận án xây dựng và chuẩn hóa khái niệm động cơ giảng dạy của giảng viên đại học từ góc độ tiếp cận tâm lý học hoạt động lịch sử - xã hội.
  • Xác định và làm rõ cấu trúc hệ động cơ giảng dạy gồm 4 thành tố (M1, M2, M3, M4) cùng cơ chế biểu hiện trên 3 khía cạnh: nhận thức, thái độ - xúc cảm và tính tích cực hành động.
  • Xây dựng bộ công cụ điều tra bảng hỏi đo lường động cơ giảng dạy của giảng viên đại học đảm bảo tiêu chuẩn đo lường tâm lý học và độ tin cậy thực nghiệm.

Về mặt thực tiễn:

  • Phác thảo bức tranh thực trạng về hệ động cơ giảng dạy của giảng viên tại 4 trường đại học tiêu biểu ở Hà Nội, khẳng định xu hướng chủ đạo là động cơ vì người học và động cơ phát triển nghề nghiệp.
  • Chỉ ra quy luật chuyển biến động cơ giảng dạy theo các biến số nhân khẩu học (độ tuổi, giới tính, thâm niên công tác, học vị, khối ngành đào tạo).
  • Phát hiện và kiểm chứng quy luật tác động: các yếu tố chủ quan có sức ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ hơn các yếu tố khách quan đối với việc duy trì động lực nghề nghiệp của giảng viên.
  • Đề xuất và thực nghiệm thành công biện pháp tập huấn chuyên môn nghiệp vụ sư phạm nhằm bồi dưỡng, nâng cao động lực nghề nghiệp cho giảng viên.

Về hệ thống kiến nghị:

  • Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo: Cần hoàn thiện hệ thống chính sách đãi ngộ, điều chỉnh cơ chế quản lý lao động học thuật, giảm áp lực hành chính và xây dựng các chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ giảng dạy đại học chuẩn hóa.
  • Đối với các cơ sở giáo dục đại học: Cải thiện điều kiện cơ sở vật chất, xây dựng bầu không khí tâm lý dân chủ, minh bạch trong đánh giá thi đua, tạo môi trường thuận lợi cho nghiên cứu khoa học và tạo cơ hội thăng tiến nghề nghiệp cho giảng viên trẻ.
  • Đối với bản thân giảng viên: Cần nâng cao ý thức tự học, tự bồi dưỡng năng lực chuyên môn và phương pháp sư phạm, chủ động xác lập mục tiêu phát triển nghề nghiệp gắn liền với sự trưởng thành của người học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án chỉ tiến hành khảo sát trên địa bàn thành phố Hà Nội tại 4 trường đại học công lập, chưa mở rộng phạm vi sang các trường đại học ngoài công lập, các trường đại học địa phương hoặc các trường ở khu vực miền Trung, miền Nam. Đối tượng nghiên cứu mới tập trung vào hoạt động giảng dạy và hướng dẫn sinh viên hệ đại học chính quy, chưa khảo sát hoạt động giảng dạy ở bậc sau đại học, hệ vừa học vừa làm hay các chương trình liên kết quốc tế.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả gợi mở là mở rộng địa bàn điều tra trên phạm vi toàn quốc với cơ cấu mẫu đa dạng hơn (bao gồm các loại hình trường đại học ngoài công lập), đồng thời áp dụng các nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) để đánh giá sự biến động động cơ của giảng viên qua từng giai đoạn chuyển đổi cơ chế tự chủ đại học.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Tâm lý học xã hội, Tâm lý học sư phạm, Giáo dục học: có thể khai thác khung lý thuyết, tiêu chí đo lường 3 khía cạnh động cơ và bộ công cụ bảng hỏi được tác giả chuẩn hóa trong phần phụ lục.
  • Cán bộ quản lý giáo dục đại học và lãnh đạo các trường đại học: tham khảo kết quả phân tích về các yếu tố chủ quan - khách quan nhằm thiết kế chính sách nhân sự, cải thiện môi trường làm việc và xây dựng chương trình bồi dưỡng nâng cao năng lực sư phạm cho đội ngũ giảng viên.
  • Các nhà hoạch định chính sách giáo dục: sử dụng các phát hiện thực tiễn làm căn cứ xây dựng chế độ tiền lương, định mức giờ giảng và chính sách kích thích tinh thần cống hiến của người dạy.

Câu hỏi thường gặp

1. Hệ động cơ giảng dạy của giảng viên đại học gồm những thành tố nào? Hệ động cơ giảng dạy của giảng viên gồm 4 dạng động cơ: Động cơ tự khẳng định bản thân (M1), Động cơ vì sự phát triển của người học (M2), Động cơ kinh tế/thu nhập (M3) và Động cơ phát triển nghề nghiệp (M4). Bốn động cơ này cùng tồn tại và đan xen trong hoạt động của giảng viên.

2. Mức độ thúc đẩy giữa các dạng động cơ có sự chênh lệch như thế nào trong thực tế? Kết quả khảo sát trên 386 giảng viên chính thức cho thấy động cơ vì sự phát triển của người học (M2) và động cơ phát triển nghề nghiệp (M4) có điểm trung bình cao nhất, giữ vai trò chủ đạo thúc đẩy giảng viên làm việc. Động cơ tự khẳng định (M1) và động cơ kinh tế (M3) có mức độ thúc đẩy thấp hơn trong thang bậc ưu tiên.

3. Nhóm yếu tố chủ quan hay khách quan tác động mạnh mẽ hơn đến động cơ giảng dạy? Kết quả xử lý thống kê của luận án chỉ ra rằng nhóm yếu tố chủ quan (nhận thức, năng lực chuyên môn, lòng yêu nghề, phẩm chất cá nhân) có mức độ tương quan và tác động mạnh mẽ hơn nhóm yếu tố khách quan (chế độ đãi ngộ, cơ sở vật chất, bầu không khí tổ chức). Giảng viên có năng lực và nhận thức nghề nghiệp sâu sắc vẫn duy trì được nhiệt huyết giảng dạy dù điều kiện vật chất còn hạn chế.

4. Khóa thực nghiệm tác động đã mang lại kết quả cụ thể gì? Tác giả đã tổ chức khóa tập huấn "Thiết kế môn học và phương pháp giảng dạy" cho giảng viên. Dữ liệu đối sánh trước và sau thực nghiệm (ghi nhận tại Bảng 3.28, 3.29, 3.30) chứng minh sự gia tăng có ý nghĩa thống kê về mặt nhận thức nghề nghiệp, sự hiểu biết kỹ thuật dạy học và điểm số động cơ nghề nghiệp của giảng viên tham gia.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Lượt là công trình nghiên cứu chuyên sâu về động cơ giảng dạy của giảng viên đại học tại Việt Nam dưới góc độ tâm lý học xã hội. Bằng việc phối hợp các phương pháp điều tra định lượng trên mẫu 816 khách thể và các kỹ thuật phỏng vấn sâu, nghiên cứu trường hợp và thực nghiệm sư phạm, luận án đã làm sáng tỏ cấu trúc hệ động cơ, khẳng định ưu thế của động cơ vì người học và động cơ nghề nghiệp. Các phát hiện về quy luật chuyển biến động cơ và sự chi phối của các yếu tố chủ quan cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ công tác quản lý và phát triển đội ngũ giảng viên đại học.