Chương 1: Những tiền đề hình thành dòng canh tân đất nƣớc nửa cuối thế kỷ XIX Chương 2: Những đề xuất canh tân đất nƣớc nửa cuối thế kỷ XIX Chương 3: Nguyên nhân thất bại và một số nhận định về dòng canh tân đất nƣớc nửa cuối thế kỷ XIX 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH DÒNG CANH TÂN ĐẤT NƢỚC NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX 1. Sự khủng hoảng của triều đình quân chủ Trung ƣơng Mặc dù có những đóng góp nhất định trong lịch sử dân tộc nhƣ thống nhất lãnh thổ quốc gia, cho Nguyễn Công Trứ mộ dân khai hoang, lập ra hai huyện: Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình) trong những năm 1828- 1829 hay cử Nguyễn Tri Phƣơng chiêu dân lập ấp ở Nam Kỳ (năm 1853)… song một thực tế không thể phủ nhận là sau khi đƣợc thiết lập vào năm 1802, triều Nguyễn ngày càng có những biểu hiện đi ngƣợc với xu thế phát triển chung của lịch sử. Trong chính sách cai trị của các vua Nguyễn, từ Gia Long tới Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức… vấn đề “lợi ích dòng họ” luôn đƣợc đặt cao hơn quyền lợi dân tộc. Chính trị: Cũng nhƣ nhiều triều đại quân chủ trƣớc đó, nhà Nguyễn duy trì và áp dụng bộ máy quân chủ chuyên chế tuyệt đối.
Vua có quyền lực tối thƣợng, là “thiên tử”, thay trời hành đạo nhƣng thực tế là “địa chủ lớn nhất nƣớc”. Tƣ tƣởng trị quốc, từ vua đến quan lại đều sử dụng học thuyết Khổng - Mạnh vốn đã lạc hậu với thời cuộc. Theo đánh giá của Giáo sƣ Đinh Xuân Lâm: “tổ chức xã thôn thời này đã hoàn toàn trở thành một công cụ của bọn cƣờng hào địa chủ nông thôn. Nó trói buộc ngƣời nông dân trong những quaon hệ địa phƣơng hẹp hòi có lợi cho sự bóc lột của nhà nƣớc quân chủ và cản trở sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa”.
Nông nghiệp: nền kinh tế nông nghiệp quốc gia vốn đã nghèo nàn, lạc hậu, dƣới sự cai trị của nhà Nguyễn, tƣ liệu sản xuất của đại bộ phận quần chúng ngày càng bị thu hẹp. Ruộng đất tốt đều tập trung trong tay quan lại, địa chủ. Hiện tƣợng nông dân không có ruộng hoặc không thể sinh sống trên mảnh ruộng của mình, buộc phải bỏ làng tha phƣơng cầu thực diễn ra rất phổ biến trong những năm đầu thế kỷ XIX. Song song với việc thiếu tƣ liệu sản xuất, nông dân Việt Nam còn phải chịu rất nhiều hình thức sƣu, thuế hà khắc 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Theo thống kê của các tác giả Đại cương Lịch sử Việt Nam, “chỉ từ năm 1802 đến năm 1806, nông dân trên 870 thôn thuộc mấy trấn lớn ngoài Bắc xiêu tán đi nơi khác. Đến năm 1826, lại đến 108 xã thôn thuộc mƣời ba huyện của trấn Hải Dƣơng xiêu tán” [44, 479-484]. Nông dân bỏ ruộng, song triều đình hầu nhƣ không có các biện pháp khắc phục tình trạng ruộng đất hoang hóa, tu bổ đê điều khiến đê Văn Giang (Hƣng Yên) liêp tiếp bị vỡ trong suốt 18 năm. Cộng thêm sự khắc nghiệt của thời tiết, phá hoại của sâu bệnh khiến nạn đói thƣờng xuyên xảy ra.
“Ngay trƣớc khi tƣ bản Pháp sắp nổ súng đánh vào Đà Nẵng (1858), một trận đói ghê gớm đã xảy ra làm cho hàng chục vạn nhân dân các tỉnh Trung Bắc Kì bị chết. Đồng thời, cũng do sự bất lực của bọn phong kiến thống trị hồi đó, nạn dịch đã hoành hành dữ dội, giết hại hàng chục vạn ngƣời” [44, 479-484]. Theo lời tâu của Nguyễn Công Trứ (năm 1833), số lƣợng dân đói kém có tới 27. Trận bão đổ bộ vào tỉnh Nghệ An năm 1842 khiến 40.753 ngôi nhà bị đổ, 5420 ngƣời chết và hàng trăm nghìn ngƣời trở thành vô gia cƣ.
Công nghiệp: triều Nguyễn nắm tất cả những ngành kinh doanh lớn. Các xƣởng đúc tàu, đúc tiền, đúc súng; các công trƣờng xây dựng lớn (lăng tẩm, đền đài…) đều nằm dƣới sự quản lý, điều hành của Bộ Công. Gần nhƣ độc quyền về thƣơng nghiệp nhƣng triều đình trung ƣơng lại không có chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với lao động tại các công xƣởng. Họ - những ngƣời thợ giỏi - bị nhà Nguyễn cƣỡng ép lao động, biên chế thành đội ngũ, đồng thời phải chịu sự kiểm soát gắt gao về nhiều mặt nên không ủng hộ triều đình.
Thống kê sơ bộ cho biết, từ khi Nguyễn Ánh mở nƣớc (1802) đến trƣớc thời điểm Thực dân Pháp nổ súng xâm lƣợc Việt Nam (1858), đã có 139 mỏ đƣợc khai thác. Ngoại trừ một số lƣợng không quá nhiều mỏ do Hoa kiều và ngƣời Việt Nam đứng ra khai thác, phần còn lại đều do triều đình trung ƣơng độc quyền kiểm soát. Không những thế, nhà Nguyễn còn đặt ra những nguyên tắc hết sức vô lí nhƣ khoanh vùng những khu vực không đƣợc khai thác, đặt giá cho một số kim loại rồi độc quyền thu mua… 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong thương nghiệp, nhà Nguyễn duy trì chính sách “trọng nông ức thƣơng”. Các hoạt động buôn bán đƣợc mở hết sức nhỏ giọt.
Song song với việc độc quyền kinh doanh nguyên liệu công nghiệp (đồng, thiếc, chì, diêm tiêu…), triều đình trung ƣơng còn đặt ra rất nhiều đạo luật vô lí khác nhƣ: đánh thuế rất nặng vào mặt hàng gạo, nghiêm cấm nhân dân họp chợ khiến việc giao thƣơng giữa các địa phƣơng gặp rất nhiều khó khăn, độc quyền mua bán lâm thổ sản quý… Về ngoại thƣơng, nhà Nguyễn thực thi chính sách “bế quan tỏa cảng” triệt để, chỉ nhập những nguyên liệu cần thiết cho triều đình (sắt, gang… để đúc đạn dƣợc, khí cụ) ở một số cửa biển. Tàu buôn của nƣớc ngoài bị khám xét kĩ và đánh thuế rất nặng. Thậm chí một số mặt hàng nhƣ tơ lụa, thóc gạo bị cấm xuất khẩu. Theo thống kê, đến năm 1851, cả nƣớc chỉ có 21 sở thuế - giảm sút rất nhiều so với con số 60 sở thuế trƣớc kia.
Về văn hóa - tư tưởng: nhƣ đã trình bày, trong những năm đầu thế kỷ XIX, mọi chính sách của nhà Nguyễn đều nhằm duy trì quyền lợi dòng họ và bảo vệ ngai vàng của nhà vua nên văn hóa - tƣ tƣởng dƣới triều Nguyễn cũng không nằm ngoài mục đích này. Các hoạt động mang tính định hƣớng về tƣ tƣởng nhƣ 10 điều Huấn dụ của Minh Mạng, Tự Đức diễn âm thập điều diễn ca… đều đề cao, tôn sùng Nho giáo để củng cố ý thức hệ quân chủ. Đó là chƣa kể đến năm 1815, nhà Nguyễn ban hành Luật Gia Long để trấn áp nhân dân và giữ vững trật tự quân chủ. Cùng với những chính sách lạc hậu, nhà Nguyễn còn tiến hành các cuộc chiến với Cao Miên, Lào khiến ngân khố quốc gia ngày càng kiệt quệ.
Đối với các quốc gia phƣơng Tây, do nhận thức sai về tôn giáo nên triều đình trung ƣơng đã thực thi hàng loạt biện pháp cấm đạo, sát đạo hết sức cực đoan. Nhìn chung, chỉ vài thập kỷ sau khi thiết lập vƣơng triều, nhà Nguyễn với những sách lƣợc trị quốc an dân lạc hậu đã khiến tiềm lực đất nƣớc suy yếu rất nhiều. Tổng trấn Lê Văn Duyệt đã cay đắng thốt lên: “Lệ thuế hơi nặng, dân lấy làm khổ”. Thuế khoa, lao dịch nặng nề khiến nửa cuối thế kỷ XIX, khởi nghĩa nông dân nổ ra ở nhiều nơi.
16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khởi nghĩa nông dân và nhân dân lao động nửa cuối thế kỷ XIX Ngay từ 1803, sau khi giành chính quyền từ nhà Tây Sơn, triều Nguyễn đã phải đối mặt với cuộc nổi dậy của một số tƣớng lính Tây Sơn cũ ở Kinh Môn (Hải Dƣơng) do Nguyễn Văn Tuyết cầm đầu. Theo thống kê, nhà Nguyễn thời Minh Mạng đã phải đối đầu với 250 cuộc khởi nghĩa, thời vua Gia Long ít hơn: 90 cuộc nổi dậy, thời Thiệu Trị cũng phải đối diện với 50 cuộc khởi nghĩa. Bƣớc sang nửa cuối thế kỷ XIX, khởi nghĩa nông dân tiếp tục làm chảo đảo triều đình quân chủ trung ƣơng. Trong thời gian này, đáng chú ý là các cuộc khởi nghĩa sau: Khởi nghĩa Nông Hùng Thạc: Qua các nguồn sử liệu, có thể khẳng định, Nông Hùng Thạc là con của Nông Văn Vân.
Thông tin từ cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Bảo Lạc [52] cho biết: do bất bình với chính sách cai trị, vơ vét tài sản của nhà Nguyễn, tháng 8 năm 1933, Nông Văn Vân đã kêu gọi nông dân các tỉnh Miền núi phía Bắc nổi dậy chống lại triều đình. Nông Văn Vân xây dựng căn cứ ở Vân Trung và Ngọc Mạc, tự xƣng là Tiết chế thƣợng tƣớng quân, tổ chức nhiều trận đánh lớn nhƣ chiếm đồn Ninh Biên (Vị Xuyên, Hà Giang), tỉnh thành Cao Bằng và huyện Thạch Lâm, vây hãm thành Tuyên Quang, tấn công sang Lạng Sơn… Không chỉ nổi dậy ở miền núi, khởi nghĩa Nông Văn Vân còn có sự liên hệ với các phong trào nông dân ở miền xuôi bởi “Nông Văn Vân là anh vợ của Lê Văn Khôi (ngƣời cầm đầu cuộc nổi dậy ở Sài Gòn - Gia Định cùng thời gian đó). Chắc rằng giữa 2 ngƣời đã có một mối liên hệ với nhau để cùng khởi sự” [10, 35]. Tháng 3/1835, khởi nghĩa Nông Văn Vân bị dập tắt, nhƣng “tinh thần quả cảm của Nông Văn Vân và nghĩa quân thì tiếng thơm còn lƣu truyền mãi với hậu thế” [52, 21]; “sự nghiệp đƣợc chuyển cho con là Nông Hùng Thạc, giữ quyền quản lý cát cứ châu Bảo Lạc” [34].
Nối chí cha, năm 1836, Nông Hùng Thạc xƣng chúa đồng thời tiến hành nhiều biện pháp củng cố lãnh địa, 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chống các cuộc càn quét của quân triều đình từ Cao Bằng và Tuyên Quang vào biên khu Bảo Lạc. Sang thời Thiệu Trị rồi Tự Đức, Nông Hùng Thạc và nhà Nguyễn ở thế giằng co, giữa hai bên ít xảy ra xung đột. Đến năm 1862, trƣớc sự kiện Hoà ƣớc Nhâm Tuất (nhà Nguyễn nhƣờng ba tỉnh miền Đông cho Pháp), Nông Hùng Thạc kéo hơn nghìn quân sang đánh thổ ty Đồng Văn là Nguyễn Doãn Cẩn. Tháng 4/1868, thực dân Pháp nổ súng đánh Nam Kỳ, nhà Nguyễn buộc phải chấp nhận cho chúa Nông Hùng Thạc giữ quyền Thổ ty, có quân đội riêng (chế độ cai trị hành chính của một xứ theo lệ thuyên chuyển trong dòng tộc).
Nối tiếp gần hết thế kỷ XIX, Nông Hùng Thạc cùng các con Nông Hùng Ân, Nông Hùng Phúc, Nông Hùng Tân đã cùng nhân dân chống lại giặc nƣớc ngoài và nội địa [34]. Khởi nghĩa Cao Bá Quát (1854): Cao Bá Quát ngƣời làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Phú Thị - Gia Lâm - Hà Nội), xuất thân là một nhà nho yêu nƣớc.