Tổng quan nghiên cứu
Việt Nam sở hữu hơn 3.260 km bờ biển với hệ thống đảo và quần đảo phong phú, đóng vai trò chiến lược trong an ninh quốc phòng lẫn cấu trúc văn hóa dân tộc. Tại tỉnh Khánh Hòa – nơi có 385 km bờ biển cùng hơn 200 đảo lớn nhỏ, đảo Hòn Tre nổi bật với diện tích 3.250 ha, án ngữ vịnh Nha Trang ở khoảng cách 5 km về phía Đông đất liền. Dưới sự che chắn của đỉnh núi Đàm Mông cao 482 m, cộng đồng hơn 1.500 nhân khẩu phân bố tại hơn 200 hộ gia đình đã kiến tạo nên một không gian sinh tồn biển đảo đặc thù trải qua hơn hai thế kỷ định cư.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ yêu cầu cấp thiết: lý giải sự tương tác sinh thái - nhân văn và sự biến đổi trong cấu trúc văn hóa của cư dân đảo trước làn sóng hiện đại hóa và đô thị hóa du lịch từ đầu thập niên 2000. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể nhằm nhận diện toàn diện đời sống văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần của cư dân tại 4 khóm đảo chính: Bích Đầm, Đầm Bấy, Vũng Ngán và Vũng Me. Phạm vi khảo sát tập trung từ sau mốc lịch sử năm 1975 đến năm 2015, có đối sánh hồi cố với các giai đoạn thế kỷ XVIII - XIX.
Ý nghĩa khoa học của đề tài thể hiện qua việc bổ sung cơ sở dữ liệu thực chứng cho chuyên ngành Văn hóa học và Nhân học biển tại khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ. Về mặt thực tiễn, công trình cung cấp chỉ dấu định lượng và định tính về 12 loại hình khai thác ngư nghiệp, đo lường năng lực thích ứng sinh kế của 100% hộ dân đảo, từ đó tạo luận cứ vững chắc cho công tác quy hoạch phát triển bền vững vịnh Nha Trang.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng đa tầng lý thuyết văn hóa học và nhân học hiện đại để phân tích đời sống cộng đồng đảo:
- Lý thuyết Sinh thái văn hóa (Cultural Ecology): Tiếp thu luận điểm của Julian Steward và Emilio F. Moran, đề tài xem xét mối quan hệ hữu cơ giữa môi trường sinh thái biển nhiệt đới với các hành vi ứng xử, phương thức khai thác tài nguyên và mô hình cư trú của ngư dân đảo Hòn Tre.
- Lý thuyết Chức năng (Functionalism): Kết hợp quan điểm của Bronislaw Malinowski về chức năng tâm lý (nghi lễ, bùa chú giúp giải tỏa căng thẳng trước rủi ro thiên tai) và Arthur Reginald Radcliffe-Brown về chức năng cấu trúc xã hội (các thiết chế tín ngưỡng giúp cố kết cộng đồng và duy trì trật tự xã hội).
- Mô hình Cấu trúc Văn hóa tộc người: Vận dụng khung phân tích của Sergei Aleksandrovich Tokarev và Eduard Sarkisovich Markarian, chia đời sống văn hóa thành hai tiểu hệ thống thống nhất: văn hóa vật chất (văn hóa sản xuất ban đầu và đảm bảo đời sống) cùng văn hóa tinh thần (văn hóa định chuẩn xã hội và nhân văn).
Các khái niệm cốt lõi được thao tác hóa gồm: Đời sống văn hóa biển đảo, Thích ứng sinh thái nhân văn, Thiết chế vạn chài, và Tri thức bản địa hải dương.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính làm chủ đạo kết hợp tiếp cận liên ngành giữa Văn hóa học, Nhân học, Lịch sử và Địa lý sinh thái:
- Khảo sát điền dã và Quan sát tham dự: Tác giả trực tiếp thực hiện 4 đợt điền dã trong hơn 5 tháng tại 4 khóm đảo, tham gia trực tiếp vào các chuyến đánh bắt ban đêm, kéo lưới đăng, gỡ cá và sinh hoạt lễ hội cộng đồng.
- Phỏng vấn sâu và Phỏng vấn hồi cố: Thực hiện tổng cộng 43 cuộc phỏng vấn sâu có ghi âm và gỡ băng chi tiết, đối thoại với các bậc cao niên từ 65 đến 78 tuổi, các chủ đầm, tài công, thợ máy và cán bộ quản lý từ cấp cơ sở đến cấp tỉnh.
- Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Mẫu nghiên cứu gồm 43 mẫu định tính đại diện cho các nhóm nghề then chốt (lưới đăng, lưới vây, lặn bắt tôm hùm, nuôi lồng bè) và các nhóm chức việc đình miếu, được chọn theo phương pháp chọn mẫu chuyên gia và chọn mẫu quả bóng tuyết (snowball sampling).
- Phân tích tư liệu thứ cấp: Thu thập và giải mã các văn bản Hán Nôm cổ, gia phả dòng họ Tiền hiền, 3 đạo sắc phong triều Nguyễn cùng các số liệu thống kê quản lý từ Ban Quản lý Khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Công trình đã làm sáng tỏ 3 cụm phát hiện mang tính bước ngoặt về đời sống văn hóa cư dân đảo Hòn Tre:
Thứ nhất, hệ thống phương tiện sản xuất vật chất phản ánh sự thích ứng sinh thái bậc cao với 12 hình thức đánh bắt chuyên biệt. Nổi bật nhất là nghề lưới đăng truyền thống do cụ Trương Văn Cỏi (người gốc Bình Định) khởi lập tại xứ Đầm Môn Bãi Tre từ năm 1809 (Gia Long thứ 7). Riêng khóm Bích Đầm duy trì đội tàu thuyền 67 chiếc với sản lượng khai thác đạt gần 100 tấn hải sản mỗi năm. Cơ cấu tổ chức trên tàu biển duy trì nguyên tắc hợp tác chặt chẽ gồm: Chủ ghe, Thợ (Tài công, Tài cải) và Bạn chài (8-10 người). Cơ chế phân chia lợi tức tuân thủ tỷ lệ vàng 3:7 bất biến qua nhiều thế hệ (3 phần cho chủ tàu cùng thợ kỹ thuật, 7 phần chia đều cho toàn bộ bạn chài), tạo nên tính bền vững kinh tế và sự tương trợ rủi ro đạt mức độ đồng thuận 100%.
Thứ hai, quá trình chuyển dịch sinh thái và sinh kế diễn ra mạnh mẽ dưới tác động môi trường. Diện tích rừng ngập mặn đảo Hòn Tre suy giảm nghiêm trọng từ khoảng 500 ha vào cuối năm 1990 xuống còn 20 ha sau năm 1999, trước khi được phục hồi 5 ha tại Đầm Bấy. Vịnh Nha Trang ghi nhận khoảng 350 loài san hô cứng (chiếm hơn 40% loài san hô tạo rạn trên thế giới), trên 200 loài cá đáy và 26 loài cá thương mại. Sự biến động rạn san hô đã thúc đẩy cộng đồng nhanh chóng phát triển nghề nuôi trồng thủy sản lồng bè (cá bớp, tôm hùm) kết hợp tiểu thủ công mỹ nghệ vỏ ốc và dịch vụ du lịch sinh thái từ năm 2001.
Thứ ba, đời sống tinh thần sở hữu cấu trúc tín ngưỡng phức hợp và dung hợp văn hóa Việt - Chăm sâu sắc. Cư dân Hòn Tre phụng thờ hệ thống thần linh biển đảo chặt chẽ: Thần Thành Hoàng, Tiền hiền - Hậu hiền, Cá Ông (Nam Hải Đại Tướng Quân) với 3 đạo sắc phong triều Nguyễn (năm 1887 triều Đồng Khánh, năm 1909 triều Duy Tân, năm 1924 triều Khải Định), Thiên Y A Na Thánh Mẫu, Ngũ Hành Thần Nữ, Chúa Thủy và Cô Hồn biển.
Thảo luận kết quả
Khi so sánh với các cộng đồng cư dân nông nghiệp đồng bằng hoặc cư dân ven biển đất liền thành phố Nha Trang, tính gắn kết xã hội tại Hòn Tre thể hiện mức độ cố kết cao hơn hẳn. Nghi lễ vòng đời như hôn nhân và tang ma trên đảo bảo lưu tính chất cộng cảm vạn chài: 100% các gia đình trong khóm đảo đều tham gia hỗ trợ vật chất, nhân lực khi có tang chế hoặc hỷ sự.
Dữ liệu phân bố mùa vụ khai thác có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ ma trận thời gian: mùa cá lên (từ tháng Giêng đến tháng Tư âm lịch) và mùa cá lại (từ cuối tháng Tư đến tháng Tám âm lịch). Việc ứng dụng lý thuyết chức năng của Malinowski giải thích rõ ràng vì sao các nghi thức cúng lăng Ông, hò bá trạo, cúng bến bãi không hề mất đi khi kỹ thuật tàu thuyền cơ giới hóa phát triển. Môi trường biển khơi với các biến số rủi ro sinh mạng khiến nhu cầu giải tỏa âu lo tâm lý trở thành một thiết chế tồn tại bắt buộc.
Sự tiếp biến văn hóa thể hiện rõ nét qua việc người Việt tiếp thu tục thờ cúng Nữ thần Pô Inư Nagar của người Chăm tại vùng đất cổ Kauthara, chuyển hóa thành Thánh Mẫu Thiên Y A Na và phối thờ hài hòa cùng hệ thống bách thần của người Việt, tạo nên bản sắc văn hóa biển đảo Khánh Hòa độc bản.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả khảo sát thực địa, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp hành động chiến lược:
- Bảo tồn không gian di sản văn hóa vật thể và phi vật thể: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa chủ trì lập hồ sơ công nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh cho quần thể Đình Bích Đầm, Lăng Ông Nam Hải và An Thanh Miếu trước năm 2028; triển khai số hóa 100% tư liệu Hán Nôm cùng 3 đạo sắc phong triều Nguyễn.
- Quy hoạch phát triển du lịch sinh thái cộng đồng bền vững: Ủy ban nhân dân thành phố Nha Trang phối hợp cùng các doanh nghiệp du lịch xây dựng mô hình trải nghiệm văn hóa vạn chài tại Bích Đầm và Vũng Ngán trong giai đoạn 2027 - 2030, đặt mục tiêu nâng tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ du lịch của cư dân địa phương lên 25 - 30%.
- Phục hồi hệ sinh thái và quản lý nguồn lợi hải sản ven bờ: Ban Quản lý Khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang cùng Viện Hải dương học triển khai dự án mở rộng diện tích phục hồi rừng ngập mặn Đầm Bấy thêm 15 - 20 ha và bảo vệ nghiêm ngặt các rạn san hô phía Đông Bắc đảo Hòn Tre, hoàn thành trước năm 2029.
- Bảo tồn và truyền dạy tri thức bản địa hải dương: Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Nha Trang phối hợp Hội Văn nghệ Dân gian đưa chương trình giáo dục di sản biển, nghệ thuật Hò bá trạo và tri thức dự báo thời tiết dân gian vào các trường phổ thông trên địa bàn từ năm 2027, đảm bảo 100% thế hệ trẻ vùng đảo hiểu rõ cội nguồn văn hóa quê hương.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang giá trị tham chiếu học thuật và ứng dụng đa ngành cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:
- Các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Khánh Hòa, Ban Quản lý Vịnh Nha Trang sử dụng làm cơ sở khoa học để xây dựng chính sách an sinh xã hội, bảo tồn không gian sống cho 4 khóm đảo dân cư trong quy hoạch tổng thể thành phố vịnh.
- Các nhà nghiên cứu văn hóa, nhân học và xã hội học: Giới học thuật tìm thấy khung lý thuyết mẫu mực về sinh thái văn hóa biển đảo, cùng nguồn ngữ liệu điền dã nguyên bản về quá trình tiếp biến văn hóa Việt - Chăm tại duyên hải Nam Trung Bộ.
- Các doanh nghiệp lữ hành và phát triển du lịch bền vững: Doanh nghiệp du lịch khai thác các giá trị ẩm thực truyền thống, nghề làm mành ốc thủ công và các lễ hội cầu ngư để thiết kế các tour du lịch di sản độc đáo, tôn trọng văn hóa bản địa.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Cung cấp tài liệu tham khảo giá trị cho các chuyên ngành Văn hóa học, Lịch sử Việt Nam, Dân tộc học và Quản lý văn hóa với hệ thống phụ lục phỏng vấn sâu phong phú.
Câu hỏi thường gặp
Nghề lưới đăng tại đảo Hòn Tre có nguồn gốc lịch sử từ khi nào?
Nghề lưới đăng tại Hòn Tre được khởi lập cách đây hơn 200 năm, vào khoảng cuối thời Hậu Lê đầu triều Nguyễn. Cụ Trương Văn Cỏi cùng gia đình từ Bình Định di cư vào vùng Đầm Môn Bãi Tre (nay là Bích Đầm), nghiên cứu quy luật luồng cá di chuyển ven các gành đảo để thiết lập giàn đăng cố định, mở ra gần 40 sở đầm hưng thịnh khắp vùng biển Khánh Hòa.
Nguyên tắc chia phần 3:7 trên ghe đánh cá mang ý nghĩa văn hóa gì?
Tỷ lệ phân chia 3 phần cho chủ tàu cùng thợ máy (Tài công, Tài cải) và 7 phần chia đều cho toàn bộ Bạn chài (8-10 người) phản ánh đạo lý tương trợ, bình đẳng và chia sẻ rủi ro sâu sắc của cư dân biển. Khi chuyến biển thất thu, tất cả cùng gánh lỗ và chờ bù đắp vào vụ cá sau, tạo nên sợi dây liên kết cộng đồng vô cùng bền chặt.
Hệ thống sắc phong triều Nguyễn tại Hòn Tre ghi nhận những nội dung gì?
Đình Bích Đầm hiện lưu giữ 3 đạo sắc phong nguyên bản của các hoàng đế triều Nguyễn ban tặng cho Thần Thành Hoàng và Cá Ông Nam Hải Đại Tướng Quân: sắc phong năm thứ 2 đời vua Đồng Khánh (1887), năm thứ 3 đời vua Duy Tân (1909) và năm thứ 9 đời vua Khải Định (1924), xác lập chủ quyền và sự bảo trợ tâm linh của nhà nước phong kiến đối với làng đảo.
Tác động của suy thoái rừng ngập mặn và rạn san hô đến đời sống cư dân ra sao?
Sự sụt giảm từ 500 ha rừng ngập mặn xuống còn 20 ha cuối thập niên 1990 làm suy giảm bãi đẻ của thủy sản ven bờ. Để thích nghi sinh thái, cộng đồng đã chuyển dịch từ đánh bắt tự nhiên sang phát triển nghề nuôi cá bớp, tôm hùm lồng bè tại Đầm Bấy và Vũng Ngán, đồng thời tham gia các chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch sinh thái biển.
Sự xuất hiện của các khu du lịch quy mô lớn tác động như thế nào đến cư dân Hòn Tre?
Từ năm 2001, khi các dự án du lịch như Vinpearl và Con Sẻ Tre hình thành, cư dân khóm Bãi Trũ đã di dời sang Vũng Me để ổn định cư trú. Sự thay đổi không gian thúc đẩy cơ cấu nghề nghiệp mở rộng sang dịch vụ ăn uống, làm hàng thủ công vỏ ốc mỹ nghệ, nhưng nghề biển truyền thống vẫn giữ vai trò hạt nhân văn hóa cốt lõi.
Kết luận
- Luận văn phân tích toàn diện đời sống văn hóa của hơn 1.500 cư dân trên 3.250 ha diện tích đảo Hòn Tre, khẳng định vị thế trung tâm của văn hóa biển đảo trong không gian vịnh Nha Trang.
- Làm rõ tính quy luật thích ứng sinh thái nhân văn qua 12 loại hình ngư cụ, nổi bật với di sản nghề lưới đăng hơn 200 năm tuổi và mô hình hợp tác lao động 3:7 bền vững.
- Hệ thống hóa cấu trúc tín ngưỡng biển đảo đặc sắc với 3 đạo sắc phong triều Nguyễn, lễ hội Cầu ngư và sự tiếp biến văn hóa Việt - Chăm quanh hình tượng Thánh Mẫu Thiên Y A Na.
- Xác lập cơ sở khoa học cho lộ trình phát triển bền vững giai đoạn 2027 - 2030, kết hợp hài hòa giữa bảo tồn di sản văn hóa vạn chài với phát triển kinh tế du lịch sinh thái.
- Cung cấp nguồn tư liệu điền dã thực chứng 43 biên bản phỏng vấn sâu, đóng góp giá trị to lớn cho kho tàng nghiên cứu văn hóa học và nhân học biển Việt Nam.
Quý bạn đọc, nhà nghiên cứu và các cơ quan quản lý quan tâm đến mô hình văn hóa biển đảo miền Trung có thể khai thác toàn văn công trình nghiên cứu để phục vụ công tác chuyên môn và đào tạo học thuật.