CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN THỦ CÔNG MỸ NGHỆ 1. Cơ sở lý luận về thủ công mỹ nghệ 1. Một số khái niệm - Ngành nghề thủ công mỹ nghệ: Ở Việt Nam, với xuất phát điểm của nền kinh tế là từ nông nghiệp lúa nước, việc phát triển đa dạng các ngành nghề thủ công (TC) và các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) là điều tất yếu của thực tiễn. Thực tế cuộc sống cho thấy, phát triển ngành nghề và làng nghề không chỉ giữ vai trò rất quan trọng trong việc làm tăng thu nhập của nông hộ nói riêng mà còn làm cơ sở đánh giá tính hợp lý và sự phát triển nền kinh tế của một quốc gia.
Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế; khoa học-kỹ thuật và sự ra đời của nền kinh tế tri thức, đã tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về các ngành nghề tiểu thủ công [16]. Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO) đã đề nghị thay thế khái niệm nghề thủ công (handicraft) bằng khái niệm công nghiệp truyền thống (traditional industry) hay nghề truyền thống. Nghề truyền thống là nghề xuất hiện từ lâu đời, trải qua nhiều thử thách của thời gian vẫn duy trì và phát triển và được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Cách định nghĩa này hoàn toàn giống với định nghĩa về nghề truyền thống được dịch theo từ điển Tiếng Việt: “Ngành nghề truyền thống là nghề chuyên nghiệp được truyền từ đời này sang đời khác” [17].
Với những cách định nghĩa trên và căn cứ vào Thông tư “Hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ban hành ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn” chúng ta có thể hiểu nghề truyền thống như sau: “Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc 5 có nguy cơ bị mai một, thất truyền” [3]. Làng xã Việt Nam gắn liền với nghề thủ công truyền thống (TCTT) và các sản phẩm TCTT mang đậm dấu ấn tinh hoa của văn hóa văn minh dân tộc. Nói đến ngành nghề TCTT trong nông nghiệp nông thôn tức là nói đến ngành nghề tiểu thủ công (TTC) trong các làng nghề truyền thống (TT). Quá trình phát triển của các làng nghề là quá trình phát triển của ngành nghề TTC ở nông thôn.
Lúc đầu, sự phát triển chỉ ở phạm vi một vài gia đình, sau lan ra cả làng. Thông qua lệ làng mà các làng nghề định ra quy ước riêng, đặc biệt là những quy ước về bí quyết nghề nghiệp. - Nghề thủ công mỹ nghệ Nghề thủ công mỹ nghệ được xem là một bộ phấn cấu thành của nghề thủ công truyền thống. Hiện nay việc đưa ra khái niệm liên quan đến nghề TCMN vẫn chưa được phát biểu một cách cụ thể.
TCMN (handicraft) là những hàng hóa được làm chủ yếu bằng tay của nghệ nhân. Những sản phẩm này được làm ra mang đậm tính nghệ thuật, đây là sự kết hợp bởi những kỹ năng của người nghệ nhân/thợ lành nghề. Sản phẩm được làm ra không có số lượng lớn như những sản phẩm được làm bằng máy móc, nhiều loại sản phẩm phải mất rất nhiều thời gian với sự tham gia của nhiều người mới hoàn thành được [9]. Ngành nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) là một bộ phận quan trọng của ngành nghề thủ công truyền thống.
Ngành nghề TCMN có vài trò rất lớn trong quá trình phát triển ngành nghề TCTT của Việt Nam, sản phẩm thủ công mỹ nghệ là loại sản phẩm nghệ thuật, kết tinh từ những thành tựu kỹ thuật - công nghệ truyền thống, phương pháp thủ công tinh xảo với đầu óc sáng tạo nghệ thuật [14] [15]. - Sản phẩm thủ công mỹ nghệ hay hàng thủ công mỹ nghệ Hàng thủ công là loại sản phẩm nghệ thuật, kết tinh từ những thành tựu kỹ thuật - công nghệ truyền thống, phương pháp thủ công tinh xảo, với đầu óc sáng tạo nghệ thuật. Mô hình hàng thủ công mỹ nghệ: 6 Phương pháp thủ Sự sáng tạo Hàng thủ công mỹ + => công tinh xảo nghệ thuật nghệ Sơ đồ 1. Mô hình sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ Hàng TCMN/sản phẩm TCMN được hiểu là một loại hàng thủ công/sản phẩm thủ công được dùng cho mục đích thưởng thức nghệ thuật và trang trí nhà cửa, nội thất của khách hàng [9].
Ngành nghề TCMN bên cạnh các yếu tố cấu thành nó có những nét đặc thù riêng, đó là: sản phẩm tiêu biểu và độc đáo của Việt Nam, có giá trị và chất lượng rất cao, vừa là hàng hóa, vừa là sản phẩm văn hóa nghệ thuật, mỹ thuật thậm chí trở thành các di sản văn hóa của dân tộc, mang bản sắc văn hóa Việt Nam. Chính yếu tố nghệ thuật, văn hóa vật thể là một đặc thù hết sức quan trọng của hàng thủ công mỹ nghệ. Sự kết hợp giữa phương pháp thủ công tinh xảo và sự sáng tạo nghệ thuật của nghệ nhân và thợ thủ công để tạo ra hàng thủ công mỹ nghệ đã kéo theo những đặc thù khác trong sự phát triển của ngành nghề TCMN và được xem như những tiêu chí của ngành nghề này: - Tính riêng, đơn chiếc mạnh hơn tính đồng loạt - Chiều sâu nhiều hơn chiều rộng, mang tính trường phái, giữ bí quyết trong sáng tạo hơn là sự phổ cập, phổ biến rộng rãi - Đầy chất trí tuệ, tri thức tích tụ lâu đời - Sử dụng hàng thủ công đồng thời thưởng thức nó nữa (thưởng tức nghệ thuật và tư tưởng, trí tuệ) - Hàng thủ công mỹ nghệ là hàng hoá được làm chủ yếu từ những nguyên liệu sẵn có trong nước như mây, tre, cói, gỗ, bèo, bẹ chuối, bẹ ngô, dây rừng…Chúng được làm bằng tay có giá trị sử dụng và giá trị nghệ thuật cao. - Hàng thủ công mỹ nghệ là những mặt hàng thuộc các ngành nghề truyền thống, được sản xuất ra bởi các nghệ nhân, thợ thủ công có tay nghề cao, độc đáo, truyền qua nhiều thế hệ và được phát triển thay đổi theo nhu cầu của cuộc sống.
Mức sống càng cao thì nhu cầu tiêu dùng hàng thủ công mỹ nghệ càng tăng lên. 7 - Hàng thủ công mỹ nghệ là sản phẩm của những ngành nghề thủ công truyền thống, mang đậm nét của một nền văn hoá dân tộc, nên hàng thủ công mỹ nghệ không chỉ là những sản phẩm đáp ứng nhu cầu sử dụng trong cuộc sống hàng ngày mà còn là những văn hoá phẩm phục vụ đời sống tinh thần, đáp ứng nhu cầu thưởng thức những tinh hoa văn hoá của dân tộc. - Có thể thấy có nhiều quan niệm khác nhau về hàng thủ công mỹ nghệ nhưng tất cả chúng đều phản ánh đó là một loại hàng hóa có tính đặc thù bởi các đặc điểm và qui trình sản xuất ra sản phẩm đó. Đặc điểm đó được mô tả cụ thể như phần sau.
Đặc điểm sản xuất, kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ 1) Hàng thủ công mỹ nghệ là sản phẩm có tính văn hóa cao Khác với các sản phẩm công nghiệp, sản phẩm TCMN đi liền với sự khéo léo và sáng tạo của người lao động hay nghệ nhân. Vì vậy sản phẩm làm ra vừa có giá trị sử dụng nhưng vừa mang dấu ấn sự tài hoa của người thợ và phong vị độc đáo của một miền quê nào đó. Chính vì vậy, tính văn hóa hay hàm lượng văn hóa kết tinh trong sản phẩm TCMN cao hơn nhiều so với các sản phẩm công nghiệp cùng loại. Hàng thủ công mỹ nghệ cũng rất đậm chất văn hoá.
Trên các sản phẩm thường biểu đạt phong cảnh sinh hoạt con người, cảnh quan thiên nhiên, lễ hội truyền thống…Những nét chấm phá nghệ thuật trên tranh sơn mài, tranh lụa, những bức khảm, trạm trổ…với cánh cò bay, cây đa, bến nước, sân đình, …đã thể hiện đất nước, con người, và đời sống tâm linh của mỗi vùng mà nó được sản xuất ra. Vì vậy, sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam bao giờ cũng phản ánh sâu sắc tư tưởng, tình cảm, quan niệm thẩm mỹ, bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam. Giá trị mỗi sản phẩm thủ công mỹ nghệ được khách hàng trong và ngoài nước nhìn nhận chủ yếu từ góc độ văn hoá nghệ thuật dân tộc, sau đó mới đến vấn đề kỹ thuật và kinh tế. Yếu tố Văn hoá đậm nét của hàng thủ công mỹ nghệ đã tạo nên vị trí quan trọng của các sản phẩm này trên thương trường và giao lưu quốc tế [9].
8 2) Hàng thủ công mỹ nghệ là những sản phẩm nghệ thuật Bên cạnh yếu tố văn hóa, sản phẩm TCMN cũng là một tác phẩm nghệ thuật của người nghệ nhân, vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị thẩm mỹ. Các sản phẩm TCMN vừa phục vụ tiêu dùng nhưng đồng thời vừa là vật trang trí trong gia đình, công sở, chùa chiền. Đó chính là sự kết tinh giữa phương pháp thủ công tinh xảo vừa sáng tạo nghệ thuật. Do vậy, hàng thủ công mỹ nghệ không chỉ đem lại cho chúng ta giá trị sử dụng thuần tuý mà còn mang lại giá trị về mặt tinh thần, thưởng thức nét đẹp văn hoá của các thế hệ đương thời, giá trị lịch sử của các thời đại, các nền văn minh.
Chính đặc điểm trên mang lại tính chất qui hiếm cho các sản phẩm TCMN và đây là chính là đặc điểm cần lưu ý, khai thác trong quá trình sản xuất hay kinh doanh các sản phẩm TCMN. Nếu biết phát huy các giá trị nghệ thuật ở trong sản phẩm thì càng có cơ hội tạo ra sự khác biệt trong sản phẩm vì vậy giá trị và giá trị sử dụng càng cao. 3) Sản phẩm thủ công mỹ nghệ thường mang tính đơn chiếc Hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống đều mang tính đơn nhất và có sắc thái riêng của mỗi làng nghề. Bên cạnh đó, sản phẩm TCMN có tính văn hóa cao.
Vì vậy, mỗi sản phẩm TCMN đều mang hồn văn hóa của dân tộc đã sản xuất ra nó. Chính vì thế, sản phẩm TCMN khó có thể lẫn lộn giữa các vùng miền, dân tộc, bản làng khác nhau. Điều này tạo ra tính đặc thù hay tính đơn chiếc trong các sản phẩm TCMN. 4) Sản phẩm thủ công mỹ nghệ có tính đa dạng Tính đa dạng đối với sản phẩm TCMN thể hiện ở nguyên liệu, văn hóa và phương thức làm ra sản phẩm đó.
Cùng là rượu, nón lá hay sản phẩm đúc đồng, nhưng mỗi làng nghề khác nhau sử dụng nguyên liệu khác nhau, có qui trình sản xuất khác nhau, do nhiều nghệ nhân sản xuất khác nhau…Vì vậy, sản phẩm thường có sự khác biệt và không đồng nhất.