phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 2 chƣơng: Chƣơng 1: Những tiền đề lý thuyết và lịch sử hình thành, tổ chức giáo xứ Đức Mẹ Vô Nhiễm (Hòn Đất). Chƣơng 2: Hoạt động tôn giáo và hoạt động an sinh xã hội của giáo xứ Đức Mẹ Vô Nhiễm (Hòn Đất). 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH GIÁO XỨ ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM 1. Những tiền đề lý thuyết 1.
Đời sống tôn giáo “Tôn giáo” bắt nguồn từ thuật ngữ “religion” (tiếng Anh) và“religion” lại xuất phát từ thuật ngữ “legere” (tiếng Latinh) có nghĩa là thu lƣợm thêm sức mạnh siêu nhiên. Tôn giáo là một thuật ngữ không thuần Việt, và tính đến hiện tại thì khái niệm về Tôn giáo vẫn chƣa đƣợc thống nhất trong giới nghiên cứu về tôn giáo. Vì dƣới góc độ và nhãn quan của lĩnh vực riêng, mà có những định nghĩa khác nhau. Trƣớc tiên, đối với trƣờng phái triết học và xã hội học, quan niệm về tôn giáo rất đa dạng, tùy vào nguyên tắc và các phƣơng pháp xuất phát.
Quan niệm của C. Ăngghen (1820-1895) cho rằng tôn giáo là rất đa dạng, đƣợc phân biệt tùy thuộc vào các nguyên tắc và các phƣơng pháp xuất phát điểm. Hai ông đã nêu đặc trƣng tôn giáo dựa trên quan niệm duy vật biện chứng về tự nhiên, xã hội và con ngƣời. Các ông cho rằng tôn giáo không có lịch sử riêng của mình, không có bản chất đặc biệt và nội dung đặc biệt nằm ngoài thế giới.
Tôn giáo phát triển trong bối cảnh lịch sử xã hội; sự tiến hóa của tôn giáo diễn ra tùy thuộc vào sự phát triển của sản xuất xã hội, của hệ thống quan hệ xã hội. Trong tôn giáo, con ngƣời biến thế giới kinh nghiệm của mình thành một bản chất tƣởng tƣợng, đứng đối lập với nó nhƣ một vật xa lạ. Nhà thần học và triết học Tin Lành giáo, R. Otto (1869-1937) cho rằng tôn giáo là “sự thể nghiệm cái thần thánh” Nhƣ vậy, có nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau về tôn giáo.
Dƣới góc độ khoa học, mỗi nhà nghiên cứu đều có cách nhìn nhận vấn đề tôn giáo theo hƣớng nghiên cứu của mình. Mỗi khái niệm về tôn giáo đều chƣa làm cho các nhà nghiên cứu hay chính những chức sắc, tín đồ tôn giáo vừa lòng. Bởi tôn giáo là lĩnh vực 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tinh thần có nhiều cách hiểu, cách lý giải khác nhau theo quan điểm chủ quan của mỗi ngƣời. Trên quan niệm của C.
Ăngghen về tôn giáo, có thể nói rằng, tôn giáo là sản phẩm của con ngƣời, do con ngƣời sáng tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu về tinh thần của con ngƣời trong xã hội, tôn giáo tạo cho con ngƣời có niềm tin vào thế giới vô hình nơi hƣ vô, nhƣng con ngƣời vẫn sống trong cuộc sống hữu hình nơi trần thế, đồng thời tôn giáo quy định những luật lệ, nghi thức mang tính thiêng liêng để con ngƣời thực hành, tuân theo. Khi nhắc tới đời sống tôn giáo là phải nhắc đến từ Vie Spirituelle. Trƣớc kia từ Vie Spirituelle thƣờng đƣợc gọi là “đời sống thiêng liêng” hoặc “đời sống tinh thần”, còn ngày nay thì đƣợc gọi là “đời sống tôn giáo”. Từ Vie Spirituelle đƣợc cấu thành thừ danh từ vie và một tính từ spirituel.
Tính từ spirituel gốc bởi danh từ esprit, có thể tóm trong ý nghĩa chính sau đây: Đối với nghĩa thông thƣờng thì Esprit là “tinh thần” nó bao gồm hết mọi sinh hoạt tinh thần, đối lại với sinh hoạt sinh lý thể chất. Nếu một cấp cao hơn, Esprit ám chỉ một lý tƣởng cao thƣợng, có nghĩa là cuộc sống theo một lý tƣởng và cố gắng rèn luyện đức tính để thực hiện hoài bão đó. Nói tóm lại đời sống tôn giáo là một đời sống bao gồm đời sống của tôn giáo và đạo đức. Nói cách khác đời sống tôn giáo không chỉ là đời sống của giáo luật, lễ nghi, nghi thức của tôn giáo đó, mà còn là một đời sống của đạo đức, từ thiện.
Đời sống tôn giáo của tín đồ Công giáo Đối với đời sống tôn giáo tín đồ Công giáo đều đƣợc quy định tại Bộ Giáo luật 1983, Giáo lí Hội Thánh Công Giáo, và Công đồng Vaticano II. Nội dung quy định từ các nghi lễ, hoạt động sinh hoạt tôn giáo, tổ chức từ thiện, bổ nhiệm… 1. Lịch sử hình thành 1. Công giáo tại Nam Bộ Theo tài liệu công bố của Trần Hữu Hợp, Công giáo có mặt tại Nam Bộ cùng thời điểm với sự hình thành cộng đồng ngƣời Việt tại đây.
Điều này đƣợc tác giả chứng minh qua các sự kiện nhƣ: 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm 1666, hai giáo sĩ thuộc Hội Thừa sai Paris là Chevreuil và Hainques đã gặp ở Bà Rịa một gia đình làm chủ một thƣơng thuyền là tín đồ Công giáo. Hai giáo sĩ này đã tới một thị trấn trên sông, đƣợc xác định là Cù Lao Phố, Biên Hoà. Tại đây, họ đã gặp một số tín đồ Công giáo ngƣời Việt và cử hành nghi lễ tôn giáo với số tín đồ này. Năm 1670 đã có một họ đạo ở Xích Lam hay Đất Đỏ gần Bà Rịa.
Trƣớc năm 1685, ở Đất Đỏ đã có 300 giáo dân. Năm 1691, một vị linh mục Việt Nam, tên là Emmanuel, đã đi thăm ông thân sinh ở Đồng Nai. Ông thân sinh của cha đã đƣa một phần gia đình vào lập nghiệp tại Đồng Nai và cha đã ở lại 4 tháng hoạt động nơi đây. Trong thƣ viết cho Hội Thừa sai Paris ngày 4-9-1710, Thừa sai Labbé cho biết có khoảng 2.000 ngƣời theo đạo Công giáo trong số 20.000 cƣ dân Đàng Trong tới lập nghiệp tại Đồng Nai từ 35 đến 40 năm trƣớc đó.
Năm 1720, tại Sài Gòn, một nhóm lƣu dân Công giáo đã quy tụ với nhau, góp tiền của để xây dựng một nhà thờ nhỏ tại xóm Nhân Giang, gần một nơi họp chợ, sau này đƣợc gọi là Chợ Quán. Năm 1725, họ đạo Chợ Quán đã có 300 giáo dân. Số ngƣời theo đạo kéo tới vùng Sài Gòn mỗi lúc một đông. Vào năm 1730, một nhà thờ khác đã đƣợc xây cất tại một trung tâm buôn bán cũng ở trong vùng, tức nhà thờ Chợ Lớn.
Vào năm 1740, họ đạo này đã có khoảng 1. Các nhà thờ khác đã lần lƣợt đƣợc xây cất tại Rạch Cát, vùng ngoại ô nhƣng có thuyền bè ra vào tấp nập, tại Bến Nghé, nay là Cầu Kho. Vào năm 1744, số tín đồ Công giáo tại Sài Gòn khoảng 5.500 ngƣời, nửa ở thành phố, nửa ở vùng ruộng xa. Theo thống kê của Trần Phổ trong cuốn Dòng Phanxicô trên đất Việt mà Trần Hữu Hợp trích dẫn, ngƣời Công giảo ở Nam Bộ đƣợc chia thành các khu vực nhƣ: Khu vực thứ nhất, là Sài Gòn, gồm nhà thờ Kính Thánh Giuse ở Chợ Quán, nhà thờ Kính Đức Mẹ Mân Côi ở Chợ Lớn, nhà thờ Kính Thánh Giá ở Bến Nghé và một nhà nguyện ở Rạch Cát.
16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khu vực thứ hai, gồm các họ đạo dọc theo sông Sài Gòn, trong đó có họ đạo lớn là họ đạo Lái Thiêu. Năm 1739, họ đạo Lái Thiêu đã có một nhà thờ và gần 400 giáo dân. Về phía tây bắc cũng có một vài nhóm nhỏ lẽ ngƣời Công giáo ở vùng Trảng Bàng. Khu vực thứ ba, về phía nam Sài Gòn, giữa ba con sông: Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, Sài Gòn; ở giữa lại có hai đƣờng thuỷ là sông Rạch Cát và sông Chợ Đệm.
Ở khu vực này có nhiều họ đạo nhỏ nhƣ Rạch Dừa, Rạch Núi, Rạch Nhà Rầm, Cần Đƣớc, Khúc Răng ở Nhà Bè, Rạch Chanh ở Cần Đƣớc và một họ đạo ở gần Nhà Bè. Vì gần Sài Gòn, nên tất cả đều thuộc về trung tâm Chợ Quán. Khu vực này chỉ có “bàn thờ”. Tuy nhiên, trƣớc năm 1750 đã có một nhà thờ ở Ba Cụm và một nhà nguyện ở Gò Đen.
Khu vực thứ tƣ, về phía nam sông Vàm Cỏ Tây, dọc theo những rạch nối liền sông này với sông Cửu Long, ngày nay là kênh Chợ Gạo, đã có hai nhóm giáo dân khá đông. Một nhóm ở phía bắc, một nhóm ở phía đông dọc theo sông Trà và sông Rạch Lá. Ở chợ Rạch Lá, trƣớc năm 1739, đã có hơn 300 giáo dân và một nhà thờ. Về phía tây Chợ Gạo, cách sông Cửu Long chừng một dặm, có một ấp gọi là Cà Bon, nay là Thủ Ngữ, năm 1739 đã có trên 200 giáo dân và linh mục José đã xây cất cho họ một nhà thờ.
Khu vực thứ năm, là bên kia sông Cửu Long, ngày nay là sông Mỹ Tho. Ở đây có những họ đạo rất xƣa. Ngƣời có đạo đã đến ở Cái Mơn và Cái Nhum từ năm 1700. Hai nơi này đều có nhà thờ.
Theo một ký sự viết năm 1751, số giáo dân ở Cái Mơn lên tới 900 ngƣời, ở Cái Nhum là 600 ngƣời. Một số giáo dân khác xuôi xuống miền biển, dọc theo hai bên sông Hàm Luông, nhất là ở vùng Ba Tri, ở đó trƣớc năm 1730 đã có nhà thờ Cái Bông. Khu vực thứ sáu, dọc theo phía bắc sông Mỹ Tho, là một vùng hình tam giác, đỉnh nam là Mỹ Tho, đỉnh bắc là Vũng Ngữ hoặc Tân An, đỉnh tây là Cái Bè. Ở đây có nhiều nhóm giáo dân đến ở, nhất là dọc theo kênh rạch nối liền Tân An Mỹ Tho.
Đã có giáo dân ở Vũng Ngữ (Tân An), ở Thân Trong, Bến Tranh, Mỹ Tho. Rạch Nam có nhà nguyện, Xoài Mục có nhà thờ và Cái Bè cũng có nhà nguyện. Ký sự có 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nói đến một nhà nguyện ở Bƣng Dung gần sông Ba Thắc, và linh mục José Garcia thƣờng đi đƣờng thuỷ qua lại trên sông Ba Thắc trong các chuyến đi thăm bản đạo. Khu vực thứ bảy, là một địa điểm rất xa về phía tây có tên là Mang Khảm, hoặc Cảng Khẩu ngƣời Tây phƣơng viết là Kam Kao, Kang Kao hay Can Cao.
Cuối thế kỷ XVII, một nhóm ngƣời Hoa ở Quảng Đông, do Mạc Cửu dẫn đầu, kéo sang nơi đây, chiêu mộ lƣu dân lập ra bảy xã. Tƣơng truyền, Mạc Cửu thấy tiên hiện ra trên sông, nên đổi tên là Hà Tiên… Từ năm 1550, một giáo sĩ dòng Đa Minh, tên là Gaspar de Santa Cruz ở Malaca đáp tàu đến Hà Tiên, nhƣng không ở lại. Đầu thế kỷ XVIII, trong số ngƣời Việt đến lập nghiệp với ngƣời Hoa ở Hà Tiên có một vài giáo dân. Lại có một số ngƣời Công giáo Bồ Đào Nha ở Cao Miên sang đúc tiền, đúc súng cho họ Mạc.
Hai nhóm Công giáo này xây cất chung một nhà nguyện nhỏ. Linh mục José Garcia đến Hà Tiên lần thứ nhất vào năm 1735.