Tổng quan nghiên cứu
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1965–1975 đã huy động gần 14 vạn thanh niên xung phong (TNXP) tham gia phục vụ và trực tiếp chiến đấu trên khắp các tuyến đường huyết mạch, trong đó lực lượng nữ TNXP chiếm gần 8 vạn người (khoảng 57%). Bước ra khỏi khói lửa chiến tranh, khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế thị trường, nhóm phụ nữ từng cống hiến trọn vẹn tuổi thanh xuân này phải đối diện với nhiều rào cản xã hội sâu sắc. Nhiều chị em gánh chịu di chứng nặng nề về thể chất, tâm lý và những thiệt thòi lớn trong cuộc sống hôn nhân, gia đình.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm nhận diện toàn diện thực trạng đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và sức khỏe của cựu nữ TNXP thời kỳ chống Mỹ, đồng thời đánh giá hiệu quả thực thi các chính sách an sinh xã hội hiện hành. Phạm vi không gian khảo sát được tiến hành tại 2 địa bàn đặc trưng của thành phố Hà Nội: quận Đống Đa (đại diện cho khu vực đô thị nội thành với 21 phường) và huyện Từ Liêm (đại diện cho khu vực nông thôn đang đô thị hóa nhanh với 16 xã, thị trấn).
Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc lượng hóa mức độ đáp ứng của hệ thống an sinh xã hội đối với người có công. Kết quả khảo sát ghi nhận tỷ lệ bất cập đáng kể khi có đến 71,0% cựu nữ TNXP chưa hài lòng về chế độ y tế và 91,6% cựu TNXP sống cô đơn trên địa bàn quận Đống Đa là phụ nữ. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học thực chứng giúp các nhà hoạch định chính sách kịp thời điều chỉnh khung pháp lý, nâng mức trợ cấp và hoàn thiện cơ chế chăm sóc sức khỏe cho lực lượng cựu nữ TNXP.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn kết hợp đa chiều các quan điểm triết học và lý thuyết xã hội học chuyên ngành để phân tích thực trạng đời sống cựu nữ TNXP:
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Đóng vai trò kim chỉ nam phương pháp luận, đặt đời sống của cựu nữ TNXP trong mối quan hệ hữu cơ với bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ đổi mới và sự chuyển dịch cơ chế quản lý từ bao cấp sang thị trường.
- Phương pháp tiếp cận giới (Gender Lens): Khám phá sự khác biệt sinh học và các khuôn mẫu vai trò giới do xã hội kiến tạo. Lăng kính giới làm sáng tỏ sự bất bình đẳng kép mà nữ TNXP phải chịu đựng: vừa gánh chịu gánh nặng thể xác thời chiến, vừa mất đi cơ hội tạo dựng hạnh phúc gia đình và việc làm ổn định khi trở về thời bình.
- Thuyết hành vi xã hội của George H. Mead: Ứng dụng mô hình Kích thích – Yếu tố trung gian – Phản ứng (S - M - R) để giải thích quá trình tương tác, thích ứng tâm lý của cựu nữ TNXP trước những biến cố đời sống và sự tiếp nhận các chính sách xã hội.
- Thuyết trao đổi và công bằng xã hội của George C. Homans: Sử dụng các định đề về phần thưởng, sự trừng phạt và quy tắc tương xứng giữa chi phí cống hiến với phần thưởng nhận được nhằm phân tích cảm nhận về sự công bằng xã hội của các cựu nữ TNXP.
- Hệ thống khái niệm công cụ: Định nghĩa rõ ràng 5 khái niệm nòng cốt gồm Giới tính (Sex), Giới (Gender), Đời sống, Thanh niên xung phong (theo Nghị quyết 55 năm 1965 của Ban Bí thư Trung ương Đoàn) và Nữ thanh niên xung phong.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phân tích tài liệu thứ cấp, điều tra định lượng và khảo sát định tính chuyên sâu:
- Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tổng cỡ mẫu định lượng gồm 200 cựu nữ TNXP, phân bổ đồng đều 100 đối tượng tại quận Đống Đa và 100 đối tượng tại huyện Từ Liêm. Kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng dựa trên danh sách quản lý của Ban liên lạc Cựu TNXP Thành đoàn Hà Nội, rút ngẫu nhiên từ 12 đến 16 người trên mỗi đơn vị xã, phường.
- Thu thập dữ liệu định tính: Thực hiện phỏng vấn sâu 16 cá nhân, bao gồm 6 cán bộ chủ chốt (Chủ tịch Hội Cựu TNXP, Trưởng ban Nữ công, Trưởng ban Chính sách tại Thành đoàn Hà Nội, quận Đống Đa và huyện Từ Liêm) cùng 10 cựu nữ TNXP đại diện cho các hoàn cảnh sống khác nhau.
- Nguồn tài liệu thứ cấp: Hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật xuyên suốt từ năm 1965 đến năm 2006 như Chỉ thị số 71/TTg (1965), Thông tư số 26/TTg (1968), Quyết định số 167/TTg (1994) và Quyết định số 104/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
- Phương pháp và công cụ xử lý dữ liệu: Dữ liệu định lượng được làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS 13.0 for Windows nhằm thống kê mô tả, phân tích bảng chéo và kiểm định tương quan giữa các biến số kinh tế - học vấn - sức khỏe. Dữ liệu định tính từ các biên bản phỏng vấn sâu được mã hóa và phân tích thông qua chương trình chuyên dụng ETHNO4. Việc kết hợp hai phần mềm này đảm bảo độ tin cậy khoa học và tính khách quan tối đa cho các kết luận nghiên cứu được thực hiện trong năm 2006.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Khảo sát thực tế cung cấp các chỉ số định lượng phản ánh rõ nét thực trạng đời sống vật chất, tinh thần và sức khỏe của cựu nữ TNXP trên địa bàn Hà Nội:
- Tình trạng kinh tế và thu nhập bấp bênh: Đa số cựu nữ TNXP có mức thu nhập hàng tháng thấp, tập trung chủ yếu vào nhóm lao động nông nghiệp hoặc không có việc làm ổn định. Theo báo cáo thống kê tại quận Đống Đa, trong số 171 cựu TNXP thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo theo tiêu chuẩn năm 2006, có tới 100 người là nữ (chiếm tỷ lệ 58,47%). Khả năng chi tiêu cho dinh dưỡng và sinh hoạt tối thiểu bị hạn chế nghiêm trọng.
- Bất cập trong giải quyết hồ sơ tồn đọng chính sách: Toàn quận Đống Đa có 1.448 cựu TNXP nhưng giai đoạn 2000–2006 chỉ có 35 trường hợp (đạt 2,41%) được nhận trợ cấp một lần theo Quyết định số 104/1999/QĐ-TTg, 7 người được tiếp cận vốn vay và 3 hộ được hỗ trợ sửa chữa nhà ở. Đáng chú ý, trong 11 cựu TNXP nghi nhiễm chất độc hóa học chưa được công nhận có 8 nữ (chiếm 72,7%); trong 23 hồ sơ đề nghị công nhận thương binh - liệt sĩ còn tồn đọng có tới 16 nữ (chiếm 69,56%).
- Tỷ lệ sống đơn thân và cô đơn cao: Trong 36 cựu TNXP có hoàn cảnh cô đơn không nơi nương tựa tại quận Đống Đa, nữ giới chiếm tới 33 người (tương đương 91,6%). Nhiều chị em trở về sau chiến tranh đã quá lứa lỡ thì hoặc suy giảm sức khỏe sinh sản, phải sống một mình hoặc nhận con nuôi trong điều kiện thiếu thốn nguồn lực bảo trợ.
- Đánh giá mức độ hài lòng về an sinh xã hội: Có đến 71,0% cựu nữ TNXP chưa hài lòng về chính sách khám chữa bệnh miễn phí và chế độ y tế chuyên biệt; 66,5% chưa hài lòng về chính sách tạo việc làm; 57,5% chưa hài lòng về mức độ tham gia của các tổ chức đoàn thể; và 51,0% chưa hài lòng về kế hoạch hành động chung đền ơn đáp nghĩa.
Thảo luận kết quả
Khi trực quan hóa dữ liệu qua biểu đồ cơ cấu hồ sơ tồn đọng và bảng tương quan giữa mức chi tiêu lương thực với thu nhập cá nhân, bức tranh về sự thiệt thòi giới hiện lên rất rõ ràng. Cựu nữ TNXP chịu sự tác động mạnh hơn nam giới về mặt xã hội khi tuổi xuân bị chôn vùi nơi chiến trường khói lửa.
Nguyên nhân căn bản của tình trạng tồn đọng chính sách xuất phát từ sự thiếu hụt thông tin ở cấp cơ sở, việc thất lạc giấy tờ chứng nhận xuất ngũ sau hơn 30 năm và quy trình thủ tục hành chính phức tạp. Mức trợ cấp tương đương 12 kg gạo/tháng quy định tại Quyết định số 167/TTg đã trở nên lạc hậu, không đủ bù đắp chi phí sinh hoạt đắt đỏ tại đô thị.
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng ghi nhận điểm sáng về đạo đức công vụ: 65,5% cựu nữ TNXP đánh giá đội ngũ cán bộ làm công tác đền ơn đáp nghĩa làm việc nhiệt tình và tâm huyết (chỉ có 13,5% đánh giá chưa hài lòng). Điều này khẳng định sự chậm trễ trong giải quyết chế độ chủ yếu bắt nguồn từ rào cản thể chế, cơ chế phối hợp liên ngành và thiếu hụt nguồn ngân sách, chứ không phải do thái độ thờ ơ của cán bộ thừa hành.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả khảo sát thực chứng, luận văn đưa ra 4 nhóm khuyến nghị hành động cụ thể nhằm hoàn thiện chính sách an sinh cho cựu nữ TNXP:
- Đơn giản hóa thủ tục và giải quyết dứt điểm 100% hồ sơ tồn đọng: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh ban hành quy chế đặc thù, cho phép sử dụng xác nhận của Ban liên lạc Cựu TNXP và lời chứng của 2 đồng đội cùng đơn vị để thay thế giấy tờ bị thất lạc. Mục tiêu giải quyết dứt điểm các trường hợp nhiễm chất độc hóa học và thương tật trước quý IV năm 2008.
- Cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí và chăm sóc sức khỏe định kỳ: UBND thành phố Hà Nội và Sở Y tế cần cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí 100% cho toàn bộ cựu nữ TNXP, không phân biệt diện chính sách. Định kỳ tổ chức khám sức khỏe và cấp phát thuốc miễn phí 2 lần/năm tại các trạm y tế xã, phường; thành lập danh bạ theo dõi bệnh mạn tính cho các cựu nữ TNXP cao tuổi.
- Điều chỉnh mức trợ cấp xã hội và xóa nhà dột nát: Nâng mức trợ cấp hàng tháng cho nhóm nữ TNXP già yếu, sống cô đơn từ mức 12 kg gạo lên mức trợ cấp bằng chuẩn nghèo đô thị của thành phố Hà Nội. Sở Xây dựng cùng chính quyền quận Đống Đa và huyện Từ Liêm huy động quỹ hỗ trợ cải tạo, sửa chữa 100% nhà ở dột nát cho các hộ cựu nữ TNXP khó khăn trong giai đoạn 2007–2010.
- Xã hội hóa nguồn lực và phát triển mạng lưới tình nguyện viên: Đẩy mạnh tuyên truyền nhằm huy động ít nhất 60% các doanh nghiệp trên địa bàn đóng góp vào Quỹ đền ơn đáp nghĩa (đáp ứng nguyện vọng của 61,0% cựu nữ TNXP được khảo sát). Đoàn Thanh niên các cấp triển khai mô hình "Đội thanh niên tình nguyện vì cựu nữ TNXP" (theo đề xuất của 52,0% người được hỏi) để giúp đỡ việc nhà, chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ sinh hoạt hàng tuần cho các cựu nữ TNXP cô đơn.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm độc giả chuyên môn:
- Cán bộ quản lý Nhà nước và cơ quan hoạch định chính sách: Cán bộ ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, Thành đoàn Hà Nội và các cấp chính quyền địa phương có thể khai thác các số liệu định lượng để sửa đổi, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến chế độ ưu đãi người có công.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên Xã hội học, Công tác xã hội: Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về cách thức vận dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng (SPSS 13.0) và định tính (ETHNO4) trong tiếp cận các nhóm xã hội đặc thù và yếu thế.
- Tổ chức Hội Cựu TNXP và Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp: Sử dụng các phát hiện của đề tài để xây dựng các chương trình can thiệp xã hội, vận động nguồn lực xã hội hóa và tư vấn pháp lý hỗ trợ hội viên bảo vệ quyền lợi chính đáng.
- Các nhà nghiên cứu lịch sử và phong trào thanh niên: Cung cấp bức tranh hiện thực sống động về số phận của người phụ nữ sau chiến tranh, góp phần làm phong phú thêm kho tàng tư liệu về phong trào thanh niên xung phong Việt Nam thế kỷ 20.
Câu hỏi thường gặp
-
Nguyên nhân chính khiến hồ sơ thương binh, chất độc da cam của cựu nữ TNXP bị chậm trễ là gì?
Nguyên nhân chủ yếu do giấy tờ gốc bị thất lạc trong chiến tranh, việc thiếu thông tin hướng dẫn chi tiết tại cơ sở và sự phối hợp liên ngành giữa cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội với tổ chức Đoàn thanh niên ở một số địa phương còn thiếu đồng bộ.
-
Vì sao tỷ lệ cựu nữ TNXP sống đơn thân, cô đơn lại chiếm tỷ lệ rất cao?
Do thời gian phục vụ tại chiến trường kéo dài (nhiều năm từ 1965–1975), khi hoàn thành nhiệm vụ trở về địa phương các chị đã quá độ tuổi kết hôn theo quan niệm truyền thống, cộng với điều kiện kinh tế khó khăn và sức khỏe suy giảm khiến cơ hội lập gia đình bị thu hẹp.
-
Quy mô mẫu khảo sát của luận văn được phân bổ như thế nào?
Nghiên cứu khảo sát 200 cựu nữ TNXP, chia đều 100 người tại quận Đống Đa (đại diện nội thành) và 100 người tại huyện Từ Liêm (đại diện ngoại thành), kết hợp phỏng vấn sâu 16 cán bộ chuyên trách và hội viên cựu TNXP.
-
Phần mềm nào được tác giả ứng dụng để phân tích dữ liệu nghiên cứu?
Tác giả đã kết hợp hai phần mềm chuyên dụng: phần mềm SPSS 13.0 for Windows để xử lý toàn bộ dữ liệu điều tra bảng hỏi định lượng và phần mềm ETHNO4 để phân tích các biên bản phỏng vấn sâu định tính.
-
Cựu nữ TNXP đánh giá như thế nào về phẩm chất của cán bộ làm công tác đền ơn đáp nghĩa?
Đa số cựu nữ TNXP (chiếm 65,5%) đánh giá đội ngũ cán bộ làm công tác đền ơn đáp nghĩa tại địa phương rất nhiệt tình, tâm huyết và có tinh thần trách nhiệm cao đối với người có công.
Kết luận
- Luận văn đã phác họa bức chân dung xã hội học chân thực, toàn diện về đời sống vật chất, tinh thần và sức khỏe của cựu nữ TNXP thời kỳ chống Mỹ tại Hà Nội.
- Chỉ ra những lỗ hổng lớn trong thực thi an sinh xã hội: tỷ lệ nghèo chiếm 58,47%, tỷ lệ cô đơn chiếm 91,6% và trên 71% chưa hài lòng về chính sách y tế chuyên biệt.
- Khẳng định tính đúng đắn của việc vận dụng lý thuyết giới và thuyết trao đổi xã hội trong nghiên cứu các nhóm đối tượng người có công sau chiến tranh.
- Đề xuất hệ thống giải pháp liên ngành mang tính khả thi cao nhằm giải quyết dứt điểm hồ sơ tồn đọng, cấp thẻ bảo hiểm y tế và nâng mức trợ cấp xã hội.
- Kêu gọi sự chung tay kịp thời của các cơ quan quản lý Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng xã hội trước năm 2008 nhằm tri ân và bảo đảm cuộc sống an vui, ấm no cho các cựu nữ TNXP trong những năm tháng tuổi già.