phần mở đầu trình bày về tính cấp thiết của đề tài; tình hình nghiên cứu đề tài; mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu; phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu bao gồm các phần sau: Chƣơng 1: UBND các cấp trong cơ cấu của bộ máy hành chính. Chương này trình bày lịch sử hình thành và phát triển của UBND các cấp; tầm quan trọng của chính quyền địa phương và vị trí, chức năng, quyền hạn của UBND cấp tỉnh. Chƣơng 2: Vai trò, vị trí, thực trạng tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế. Chương này tập trung đánh giá tình hình tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế cũng như đội ngũ cán bộ công chức của tỉnh.
Chƣơng 3: Kiến nghị các giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế. Từ thực tiễn tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế được đánh giá ở chương 2, các giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế sẽ được trình bày ở chương này. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: UBND CÁC CẤP TRONG CƠ CẤU CỦA BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC 1. Tầm quan trọng của chính quyền địa phương trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nƣớc Điều 2 Hiến pháp 1992 quy định: ”Nhà nước CHXHCN Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức”. Điều này thể hiện bản chất của nhà nước ta “là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân” 2. Tôn chỉ hoạt động của nhà nước ta là: ”Nhà nước đảm bảo và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, nghiêm cấm mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” (điều 3 Hiến pháp 1992). Để đảm bảo cho nhà nước thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, đáp ứng được những yêu cầu của xã hội thì việc phân cấp, phân quyền trong quản lý hành chính chiếm vị trí hết sức quan trọng.
Từ khi xuất hiện Nhà nước cho đến nay, dù là hình thức Nhà nước cát cứ hay tập quyền thì việc phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính để Nhà nước Trung ương thực hiện quyền quản lý, điều hành luôn tồn tại. Điều này mang tính khách quan. Bởi lẽ, “không một Chính phủ của một Nhà nước nào chỉ thực hiện quyền lực Nhà nước của mình ở tại một chỗ, nơi tọa ngự của các cơ quan Nhà nước Trung ương” 3. Như các quốc gia khác trên thế giới, nền hành chính quốc gia nước ta cũng được phân theo thứ bậc: Chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương, bởi lẽ: - Các cơ quan Nhà nước Trung ương không thể tự mình trực tiếp quản lý, điều hành, xử lý tất cả mọi công việc, tình huống nảy sinh ở các địa phương.
Thông qua việc phân cấp trong quản lý, chính quyền địa phương sẽ thay mặt 2[ 12, 131 ] 3[ 12, 131-132] 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhà nước Trung ương thực hiện công việc quản lý tại địa phương. Chính quyền địa phương vừa thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn của mình do Nhà nước Trung ương giao vừa căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương để xây dựng những chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương, giải quyết các vấn đề nảy sinh phù hợp với hoàn cảnh thực tế của địa phương mình. - Thông qua chính quyền địa phương, Nhà nước Trung ương sẽ gần dân hơn, nâng cao năng lực nắm bắt thực tiễn để có cơ sở và căn cứ hoạch định chính sách hoặc điều chỉnh, bổ sung, bãi bỏ các chính sách không còn phù hợp trong phạm vi toàn quốc. Và cũng thông qua chính quyền địa phương, các mệnh lệnh, quy định của Nhà nước Trung ương sẽ được thực thi trong cuộc sống.
Hiện nay, theo Hiếp pháp 1992 thì chính quyền địa phương nước ta được chia thành ba cấp hành chính: - Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương - Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh - Xã, phường, thị trấn Các cơ quan chính quyền địa phương chịu sự quản lý, chỉ huy trực thuộc: xã trực thuộc huyện, huyện trực thuộc tỉnh, tỉnh trực thuộc Trung ương. (Tính đến hết tháng 12/2002 ở nước ta có 61 đơn vị hành chính cấp tỉnh, 623 đơn vị hành chính cấp huyện và 10.538 đơn vị hành chính cấp xã - Theo số liệu của Ban tổ chức cán bộ Chính phủ). Ở mỗi đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã đều có HĐND và UBND. Các cấp chính quyền đều thực hiện những công việc do pháp luật quy định, chịu sự giám sát kiểm tra của cấp trên và của Trung ương.
Quản lý địa phương là công việc đa dạng, phong phú và phức tạp, vì vậy tất yếu phải có việc phân cấp quản lý giữa Trung ương và địa phương trên cơ sở quán triệt nguyên tắc: “Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Có nghĩa là, không thể có quan niệm quyền lực nhà nước ở Trung ương và quyền lực nhà nước ở địa phương mà chỉ có một bộ máy thống nhất. Trong bộ máy đó có các cấp chính quyền Trung ương và địa phương, đó là sự phân cấp thứ bậc cần thiết mà không phải là sự phân chia quyền lực tạo ra sự cát cứ địa phương Trong các cấp chính quyền địa phương, chính quyền cấp tỉnh chiếm vị trí rất quan trọng, là cấp chính quyền sau cấp Trung ương và là cấp chính quyền đầu tiên trong hệ thống chính quyền địa phương. UBND tỉnh là một bộ phận của chính quyền cấp tỉnh.
UBND tỉnh là cơ quan chấp hành của HĐND tỉnh và cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương, thực hiện hoạt động mang tính chấp hành - điều hành để quản lý các lĩnh vực khác nhau trong địa bàn tỉnh. UBND tỉnh là một tổ chức có cơ cấu thống nhất, nằm trong hệ thống hành chính thống nhất có tính thứ bậc từ Trung ương đến địa phương và được thành lập theo Hiến định. Lịch sử hình thành, phát triển của UBND các cấp và vị trí chức năng, quyền hạn của UBND cấp tỉnh theo Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994. Lịch sử hình thành, phát triển của UBND các cấp Lịch sử hình thành và phát triển của chính quyền địa phương (HĐND và UBND các cấp) gắn liền với cuộc cách mạng của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Sự phát triển của chính quyền địa phương có thể chia ra làm 4 giai đoạn: từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến trước tháng 12/1959; từ tháng 12/1959 đến trước tháng 12/1980; từ tháng 12/1980 đến trước tháng 4/1992 và từ tháng 4/1992 đến nay. * Giai đoạn từ sau Cách mạng thángTám 1945 đến trƣớc tháng 12/1959 Cách mạng tháng Tám thành công và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam 4[12,131-132] 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dân chủ Cộng hòa đã đánh dấu một kỷ nguyên mới trong lịch sử của dân tộc ta. Ngay sau khi chính quyền Trung ương được thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 63/SL ngày 29/11/1945 về tổ chức chính quyền nhân dân ở các địa phương và Sắc lệnh số 77/SL ngày 21/12/1945 về tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phố. Hai Sắc lệnh này đã đặt nền móng cho sự ra đời của hệ thống cơ quan chính quyền địa phương kiểu mới, chính quyền của dân, do dân và vì dân.
Theo quy định của Sắc lệnh 63/SL, chính quyền địa phương được chia thành 4 cấp: cấp kỳ, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Ở cấp xã, cấp tỉnh có HĐND và Uy ban hành chính; ở cấp kỳ và cấp huyện chỉ thành lập Uy ban hành chính. HĐND là cơ quan thay mặt cho dân, Uy ban hành chính là cơ quan vừa thay mặt cho dân vừa đại diện cho Chính phủ. Uy ban hành chính có nhiệm vụ thi hành mệnh lệnh của cấp trên và Nghị quyết của HĐND; giải quyết các công việc trong phạm vi địa phương; triệu tập kỳ họp của HĐND cùng cấp; kiểm soát các cơ quan chuyên môn; phát lệnh viên ngân sách địa phương.
Ngoài ra, Uy ban hành chính còn có quyền kiểm soát các Uy ban hành chính và HĐND cấp dưới, duyệt y Nghị quyết của HĐND xã, ra Nghị định để giữ trị an, điều khiển đội cảnh binh lo việc tuần phòng và trị an, ra lệnh điều động quân đội đóng trong tỉnh để bảo vệ đất nước. Vị trí, vai trò của Uy ban hành chính theo quy định của Sắc lệnh 63/SL cho thấy sự kết hợp giữa nguyên tắc tự quản địa phương với sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền Trung ương. Theo đó, Uy ban hành chính không những là cơ quan thay mặt cho dân, mà còn là cơ quan đại diện cho Chính phủ, vì vậy Uy ban hành chính có quyền duyệt y Nghị quyết của HĐND cấp dưới, có quyền bãi bỏ Nghị quyết của HĐND nếu xét thấy Nghị quyết đó trái với mệnh lệnh cấp trên. Uy ban hành chính tỉnh gồm 3 thành viên do HĐND tỉnh bầu ra trong số đại biểu biết đọc, biết viết của mình.
Sau cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung cho cả nước, ngày 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 09/11/1946 Quốc hội khóa I đã thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước ta. Hiến pháp 1946 tiếp tục duy trì mô hình tổ chức chính quyền địa phương như Sắc lệnh số 63/SL. Trước tình hình thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, ngày 28/12/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 3-NV/SL về việc tạm hoãn các cuộc bầu cử vào HĐND và UBHC. Để tiếp tục củng cố kiện toàn chính quyền địa phương trong tình hình thời chiến, ngày 19/11/1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 254/SL về tổ chức chính quyền nhân dân địa phương trong thời kỳ kháng chiến.
Theo quy định của Sắc lệnh này, chính quyền địa phương được chia thành 4 cấp: liên khu (thay cho cấp kỳ), cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Ở cấp tỉnh và cấp xã có HĐND và Uy ban kháng chiến hành chính; liên khu và cấp huyện có Uy ban kháng chiến hành chính.