Phần mở đầu, luận văn sẽ trình bày khái quát về vấn đề nghiên cứu của đề tài, mục tiêu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu. Chương 2 – Tổng quan lý thuyết, ở chương này nghiên cứu lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước để tổng hợp khái niệm, cách đo lường LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 đầu ra và đầu vào của DMST, nguyên lý tác động DMST lên hiệu quả doanh nghiệp. Đồng thời, chỉ ra được một số yếu tố đại diện cho đặc điểm doanh nghiệp quyết định đến việc doanh nghiệp triển khai DMST. Chương 3 – Trình bày về khung phân tích đánh giá tác động của DMST lên hiệu quả doanh nghiệp, phương pháp PSM và dữ liệu sử dụng cho đề tài này.
Chương 4 – Trình bày về kết quả nghiên cứu luận văn. Chương 5 – Kết luận, hạn chế và hàm ý chính sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT Trong chương tổng quan lý thuyết trình bày về khái niệm của hoạt động đổi mới sáng tạo (DMST), phân loại các dạng đổi mới, đồng thời lược khảo các nghiên cứu trước để đưa ra cơ chế tác động của DMST lên hiệu quả doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng trình bày về những đặc điểm của doanh nghiệp ảnh hưởng đến xác suất thực hiện DMST trong doanh nghiệp.1 Khái niệm về đổi mới sáng tạo Tại Việt Nam, Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 đã đưa ra định nghĩa "đổi mới sáng tạo (innovation) là việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa". Ngay từ ban đầu việc chuyển ngữ innovation thành đổi mới sáng tạo hay cải tiến, đổi mới trong tiếng Việt về mặt ngữ nghĩa hàm ý tương đương nhau, đều có ý nghĩa là sự thay đổi. Schumpter là một trong những nhà kinh tế học đầu tiên đưa ra khái niệm rõ ràng về hoạt động DMST, là một quá trình đột phá công nghiệp, cách mạng hóa được thực hiện liên tục từ bên trong doanh nghiệp, thay đổi cơ cấu kinh tế và rồi từ đó không ngừng tạo ra các giá trị mới. Theo Schumpter, bất cứ doanh nghiệp nào muốn tìm kiếm lợi nhuận nhằm tăng tính cạnh tranh và năng động đều phải đổi mới.
Trong từ điển kinh tế, đổi mới sáng tạo là hiện thực hóa các ý tưởng, phát minh thành hàng hóa hoặc dịch vụ, người tiêu dùng sẵn lòng trả. Một ý tưởng được xem là đổi mới chỉ khi ý tưởng đó phải là chi phí kinh tế có thể tái sản xuất và đáp ứng được nhu cầu cá nhân cụ thể. Đổi mới liên quan đến việc ứng dụng thông tin, sáng kiến để đạt được giá trị cao hơn hay khác biệt dựa nguồn lực sẵn có, nó bao gồm tất cả các quy trình để ý tưởng mới được tạo ra và chuyển đổi thành những sản phẩm hữu ích (trích trong Pavlik, 2013). Theo cẩm nang Olso (2018) của OECD thì đổi mới chính là việc tập trung cải thiện những tiêu chuẩn sống có thể ảnh hướng đến cá nhân, thể chế, ngành kinh tế và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 quốc gia theo nhiều phương thức khác nhau.
Bên cạnh đó, DMST cũng chính là sự thay đổi về sản phẩm hay quy trình, tạo ra giá trị mới và đến tay người tiêu dùng. Khái niệm này cũng tương tự như cách định nghĩa của hội đồng kinh tế tại Australia, hoạt động cải tiến này phải tạo ra kết quả là giá trị tăng thêm từ những doanh nghiệp DMST và những khách hàng của doanh nghiệp. Therrien và cộng sự (2011) định nghĩa DMST là một quá trình phức tạp liên quan đến các hoạt động thay đổi được thực hiện bên trong doanh nghiệp, bao gồm nhiều danh mục như sản phẩm, quy trình sản xuất, quản lý, chức năng hoạt động. Các ý tưởng về DMST sẽ được triển khai và hình thành trong doanh nghiệp dựa vào chính năng lực đổi mới của đơn vị.
Tương tự, Evangelista R. và Baregheh (2009) thì hoạt động này gồm nhiều giai đoạn. Các đơn vị chuyển đổi ý tưởng thành các sản phẩm, quy trình, dịch vụ được cải tiến trong quá trình sản xuất kinh doanh. Việc hiện thực hóa ý tưởng cải tiến tạo ra điểm khác biệt giữa những đơn vị có và không triển khai DMST, tăng tính cạnh tranh và cuối cùng dễ dàng dẫn đến đến sự thành công, lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Afuah (2003) chỉ ra công thức của DMST bao gồm phát minh và thương mại hóa, có nghĩa đổi mới là việc áp dụng kiến thức tạo ra những sản phẩm theo nhu cầu của khách hàng. Sáng chế đó là những ý tưởng hay quy trình được tạo ra mới, chưa từng làm trước đây nhằm thiết kế sản phẩm, xây dựng, điều chỉnh vận hành và sản xuất. Trong khi đó, đổi mới sáng tạo có nghĩa là thương mại hóa ý tưởng, có nghĩa cách để thực hiện ý tưởng công việc hay sáng chế được thương mại. Giữa 2 khái niệm này thường có sự khác nhau về độ trễ thời gian đáng kể, phản ánh sự khác nhau để xây dựng ý tưởng và thực hiện chúng trong thực tế.
Chuyển đổi phát minh thành DMST cần kết hợp kiến thức, khả năng, kỹ năng và nguồn tài nguyên của doanh nghiệp. Trong thực tế, hoạt động đổi mới đều thông qua những thay đổi trong cuộc sống, những thay đổi này làm chuyển đổi ý nghĩa kinh tế, những đổi mới sau lần phát minh đầu tiên thường mang về lợi ích kinh tế hơn so với ban đầu. Tóm lại, định nghĩa DMST là việc doanh nghiệp thực hiện các sự thay đổi nhằm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 vào mục tiêu chung chính là kết quả doanh nghiệp có sự chuyển biến tích cực so trước khi triển khai. Đổi mới sáng tạo không chỉ nằm ở ý tưởng, sáng chế mà phải được hiện thực hóa, đảm bảo tính thị trường, thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng.
Đồng thời, hoạt động DMST này bao gồm nhiều hình thức được thực hiện trong hay ngoài công nghệ.2 Ngành kinh tế trọng điểm Theo lý thuyết tăng trưởng không cân đối của Hirchman (1958), tại các quốc gia đang phát triển, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cần đầu tư tập trung vào những ngành trọng điểm của quốc gia nhằm tạo ra sự lan tỏa số nhân trong các ngành của nền kinh tế. Đây là những ngành có sức bật và lan tỏa để thúc đẩy các ngành khác còn lại phát triển. Bốn tiêu chí để xác định ngành kinh tế trọng điểm phù hợp với nền kinh tế tại Việt Nam và phù hợp với xu thế hiện nay. Đầu tiên là độ lan tỏa kinh tế, đây được xem là mối liên kết ngược, đầu vào của các ngành kinh tế trọng điểm từ các ngành còn lại của nền kinh tế, được so sánh với ngưỡng sử dụng trung bình của toàn ngành kinh tế.
Kế đến là độ nhạy, kinh tế trọng điểm thể hiện mức độ quan trọng trong việc cung cấp nguồn nguyên liệu đầu vào cho các ngành còn lại, thể hiện mối liên kết xuôi. Thứ 3 là độ phụ thuộc về nhập khẩu, được xác định là giá trị nhập khẩu của ngành trọng điểm so với toàn ngành, thể hiện mức độ phụ thuộc vào nhập khẩu từ nước ngoài. Cuối cùng là độ lan tỏa về môi trường, là mức độ tác động đến môi trường của ngành trọng điểm so với toàn ngành, với mục tiêu hạn chế việc đánh đổi giữa tăng trưởng và môi trường (Đại học kinh tế quốc dân, 2019).3 Phân loại về hoạt động đổi mới sáng tạo Schumpter thì DMST gồm 5 dạng, bao gồm đầu tiên đó là giới thiệu hàng hóa mới, loại mà người tiêu dùng trên thị trường chưa quen thuộc hoặc tạo ra sự thay đổi khác biệt chất lượng sản phẩm hiện hữu. Thứ 2 là dạng doanh nghiệp thực hiện đổi mới bằng quy trình sản xuất mới xuất hiện, cái mà đơn vị chưa áp dụng và thử nghiệm trước đây.
Dạng kế tiếp đó chính là doanh nghiệp gia nhập hay chuyển qua thị trường tiêu thụ mới. Thứ 4 là thu nhận và phát triển nguồn cung cấp mới về nguyên liệu hoặc đầu vào mới, bất kể nguồn này đã tồn tại hay do doanh nghiệp phát hiện. Dạng cuối LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 cùng là việc thực hiện tổ chức mới trên bất cứ ngành nghề nào nhằm tạo ra vị thế độc quyền hoặc là phá vỡ vị thế độc quyền hiện có trên thị trường (Trích từ Alin, 2008). Một cách tiếp cận khác cũng theo Schumper, phân loại đổi mới sáng tạo dựa theo sự so sánh căn bản với phiên bản hiện có, gồm có 2 dạng đổi mới luôn song hành với nhau, đó là đổi mới liên tục (incremental innovation) và đổi mới sáng tạo mang tính căn bản (radical innovation).
Theo đó, đổi mới liên tục là cải thiện một sự vật tiến bộ so với sản phẩm dịch vụ tiền nhiệm và đồng thời phải bổ sung ít nhất một tính năng mới, nâng cao khả năng cạnh tranh. Đổi mới sáng tạo mang tính căn bản (radical innovation) là việc tạo ra những sản phẩm, hàng hóa dịch vụ mới hoặc thay đổi cấu trúc sản phẩm, mang tính đột phá. Loại đổi mới này bao gồm việc giải quyết theo 3 cấp độ, đó có thể là đổi mới sản phẩm liên quan ý tưởng, công nghệ mới; đổi mới quy trình liên quan đến phương thức sản xuất, giao vận hàng hóa và dịch vụ mới cho khách hàng; hay kết hợp cả 2 hình thức trên (Trích từ Fădor, 2014). Cẩm nang Oslo (2018) tái bản lần thứ 4 với mục tiêu đưa ra tiêu chuẩn nhằm mục đích khảo sát và nghiên cứu về đổi mới sáng tạo.
Trong phiên bản trước, DMST bao gồm 4 dạng đó là những dạng liên quan đến sản phẩm, quy trình, tổ chức và tiếp thị. Tuy nhiên, trong lần xuất bản này bao gồm chỉ tóm lược vào hai dạng chính đó là sản phẩm và quy trình kinh doanh để thuận lợi xây dựng tiêu chuẩn đo lường. Về DMST sản phẩm có nghĩa là tạo ra một phiên bản một hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ hoàn toàn mới hoặc cải tiến so với phiên bản trước và được giới thiệu ra thị trường. Về đổi mới quy trình kinh doanh cũng tương tự như cách giải thích của đổi mới sản phẩm về cụm từ tạo mới và cải tiến, ở đây là sự thay đổi về quy trình, phương pháp kinh doanh sản xuất, từ thiết kế, sản xuất và phân phối sản xuất đến thị trường.