Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỔI MỚI QUY TRÌNH BỔ NHIỆM VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ QUẢN LÝ CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người, các hoạt động giáo dục và đào tạo luôn chiếm một vị trí quan trọng. Học thuyết Mác - Lênin đã chỉ ra những quy luật khách quan trong sự vận động, phát triển của xã hội và sự hình thành nhân cách con người và khẳng định con người là chủ thể của lịch sử, là lực lượng tự giác, tích cực, sáng tạo ra lịch sử.Mác viết: “Cái học thuyết duy vật cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục, rằng do đó con người đã biến đổi là sản phẩm của những hoàn cảnh khác và của một nền giáo dục đã thay đổi, cái học thuyết ấy quên rằng chính những con làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục.Ăngghen nhấn mạnh: “Công tác giáo dục sẽ làm cho những người trẻ tuổi có khả năng nắm vững nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn, làm cho họ có thể lần lượt chuyển từ ngành sản xuất này sang ngành sản xuất nọ tuỳ theo nhu cầu của xã hội hoặc tuỳ theo sở thích của bản thân họ. Do đó, công tác giáo dục sẽ làm cho họ thoát khỏi tình trạng một chiều mà sự phân công lao động hiện nay đang buộc mỗi một người phải theo.Lênin, ông luôn coi giáo dục là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo thắng lợi sự nghiệp xây dựng CNXH.Lênin cho rằng, công tác giáo dục và đào tạo phải luôn gắn liền, bám sát với thực tiễn cuộc sống, phải trở thành đòn bẩy, thành công cụ, thành nguồn nội lực bên trong của quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Như vậy, cả C.Lênin đều khẳng định vai trò to lớn của giáo dục và đào tạo đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội và sự tác động trở lại của phát triển kinh tế - xã hội đối với giáo dục và đào tạo, chỉ rõ ý nghĩa và vai trò quyết định của giáo dục và đào tạo đối với việc phát triển con người của 6 c mỗi quốc gia. Những quan điểm ấy có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn đối với những quốc gia thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH theo định hướng XHCN như Việt Nam hiện nay. Kế thừa, vận dụng và phát triển những tư tưởng của Chủ nghĩa Mác - Lê nin vào Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã có những quyết sách nhằm phát huy mọi tiềm năng của con người, trong đó có đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã đề ra phương hướng, mục tiêu “Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo.
Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo” [6, tr. Đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục luôn được coi là lực lượng cốt cán trực tiếp biến các mục tiêu giáo dục thành hiện thực, là “nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn vinh”. ''Khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục là phải đặc biệt chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và tiêu chuẩn hoá đội ngũ giáo viên cũng như cán bộ quản lý giáo dục cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức và năng lực chuyên môn nghiệp vụ” [20, tr. Từ góc độ nghiên cứu khoa học, nhiều nhà khoa học cũng đã nghiên cứu, đề xuất những giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục.
Cuốn sách “Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI. Chiến lược phát triển” [35] của Đặng Bá Lãm đã có những phân tích sâu về chiến lược phát triển giáo dục, các giải pháp QLGD; Tác giả Vũ Ngọc Hải và Trần Khánh Đức trong "Hệ thống giáo dục hiện đại trong những năm đầu thế kỷ XXI" [24] đã trình bày cụ thể quan điểm, mục tiêu, giải pháp phát triển giáo dục. Ngoài ra, còn nhiều công trình khác cũng đề cập đến vấn đề này. Tuy nhiên, vấn đề đổi mới quy trình bổ nhiệm và sử dụng CBQL trường THPT ở tỉnh Hải Dương thì chưa có tác giả nào đề cập nghiên cứu.
Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động nhằm tăng năng suất lao động, cải tạo cuộc sống. Để đạt được mục tiêu trên cơ sở kết hợp các yếu tố con người, phương tiện. thì cần có sự tổ chức và điều hành chung, đó chính là quá trình quản lý.
Khái niệm "quản lý" được định nghĩa khác nhau. Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi chọn sử dụng định nghĩa “quản lý” theo quan điểm của các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo” [25, tr.12]: “Quản lý là sự tác động có tổ chức có hướng đích của chủ thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra.13]: - Quản lý là một loại lao động để điều khiển lao động và là một nghệ thuật tác động vào hệ thống có hướng đích, có mục tiêu xác định. - Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa bộ phận chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, có khả năng thích nghi giữa chủ thể với đối tượng quản lý và ngược lại. - Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người.
Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan. Từ đó, chúng tôi khái quát: Quản lý là những tác động có tổ chức, có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý, trên cơ sở biết sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của bộ máy để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường, nhằm bảo đảm cho sự vận động, phát triển của hệ thống phù hợp với quy luật khách quan, trong đó sử dụng và khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội để đạt được mục tiêu đã xác định theo ý chí của chủ thể quản lý. Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là thực hiện các chức năng quản lý vào việc tổ chức, triển khai các hoạt động giáo dục, bảo đảm điều kiện cần thiết cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục. Cũng như khái niệm ''quản lý'', khái niệm "quản lý giáo dục" có nhiều quan niệm khác nhau và ở nhiều cấp độ.
8 c Theo tác giả Trần Kiểm, quản lý giáo dục có 2 cấp độ. Cấp vĩ mô là quản lý một hệ thống giáo dục; còn ở cấp vi mô chính là quản lý trường học/ cơ sở giáo dục [31, tr. “Quản lý giáo dục (vĩ mô) được hiểu là những tác động liên tục, có tổ chức, có hướng của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính vượt trội/tính trồi của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu tiềm năng, cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động” [31, tr. “Hệ thống giáo dục” nói đến ở đây có thể là Hệ thống giáo dục quốc dân (của một quốc gia), hay hệ thống giáo dục trên một địa bàn giáo dục (tỉnh, huyện, xã).
Như vậy, có thể nói, vấn đề nghiên cứu “quy trình bổ nhiệm và sử dụng CBQL các trường THPT tỉnh Hải Dương” thuộc khái niệm quản lý hệ thống giáo dục trên một địa bàn cụ thể (tỉnh Hải Dương). “Quản lý giáo dục (vi mô) được hiểu là những tác động trực tiếp (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh, và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [31, tr. Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng định nghĩa của tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [37, tr. Nội dung của QLGD bao gồm: “1.
Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sáh phát triển giáo dục; 2. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản qui phạm pháp luật về giáo dục; ban hành điều lệ nhà trường; ban hành qui định về tổ chức và hoạt động của các cơ sở giáo dục khác; 9 c 3. Qui định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục; tiêu chuẩn nhà giáo; tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị trường học, việc biên soạn, xuất bản, in và phát hành sách giáo khoa, giáo trình, qui chế thi cử và cấp văn bằng; 4. Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục; 5.
Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; 6. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn nhân lực để phát triển sự nghiệp giáo dục; 7. Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu khoa học, công nghệ trong ngành giáo dục; 8. Tổ chức, quản lý công tác quan hệ quốc tế về giáo dục; 9.
Qui định việc tặng các danh hiệu vinh dự cho những người có nhiều công lao đối với sự nghiệp giáo dục; 10. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục” [39]. Như vậy, công tác quản lý phát triển đội ngũ cán bộ, giáo viên là một nội dung quan trọng trong khái niệm QLGD và đó cũng là nội dung quan trọng liên quan đến đề tài luận văn này. Mặt khác, với khái niệm QLGD, chúng tôi xác định công tác bổ nhiệm và sử dụng CBQL các trường THPT tỉnh Hải Dương thuộc lĩnh vực QLGD- một hệ thống giáo dục trên một địa bàn.
Cụ thể đó là quản lý hệ thống giáo dục trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Quản lý trường học Trường học là một bộ phận của xã hội, là tổ chức giáo dục cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân.